Showing posts with label hành hương. Show all posts
Showing posts with label hành hương. Show all posts

Thursday, May 7, 2009

# Kể lại chuyến hành hương mơ Phật độ

Người trình bày: Thái Minh Mẫn


Bá tòng HƯNG Mơ NGUYÊN


LỊCH HÀNH HƯƠNG

25/4/ 2009 (mùng 1 âm lịch tháng 4 năm Kỷ Sửu): TPHCM – Châu Đốc – Bình Khánh – Pnôm Pênh.
26/4/2009: núi Cổ, đền Ăng Co.
27/4/2009: núi Tổ
28/4/2009 – 29/4/2009: núi Tà Lơn (cao 2000 mét)
30/4/2009: Pnôm Pênh – TPHCM

MẦU MƠ TRÊN ĐƯỜNG HÀNH HƯƠNG VỀ ĐẤT PHẬT

Ngày 25 tháng 4 năm 2009 đoàn chúng tôi gồm mười người (5 từ TPHCM, 5 từ An Giang) hợp nhất tại cửa khẩu Bình Khánh An Giang dưới sự hướng dẫn của chị Na một Việt kiều sống tại Campuchia đã 21 năm làm thủ tục qua biên giới. Trải qua một đoạn đường 45km từ bến xe châu Đốc với một hành trình tương đối vất vả vì phải ngồi trên xe honda ôm chở ba làm chân tay chúng tôi tê dại, mệt mỏi dưới cái nắng nóng chúng tôi đã đến cửa khẩu Bình Khánh. Vào khoảng 17 giờ chúng tôi đã đặt chân tới thủ đô và dừng chân ở nhà Thủy (cháu gái của Na) ở số nhà 25 đường 318 Pnôm Pênh.

Năm giờ sáng ngày hôm sau 14 người (chúng tôi đã cảm nhận trước về số người) khởi hành đi viếng núi Tổ. Đoạn đường 120km không làm chúng tôi mệt mỏi, trái lại rất phấn chấn. Một cảm nhận thoáng đến trong tôi là đất nước Campuchia còn nghèo, nông nghiệp không phát triển bởi thiếu hệ thống thủy lợi, người nông dân chỉ trồng cấy một vụ vào mùa mưa, đất bỏ hoang nhiều, rau quả rất nghèo nàn và mắc hơn so với Việt Nam. Chúng tôi đến chân núi lúc 8g30, và bắt đầu dở cơm mang theo ăn sáng, sau đó lên xe để bác tài chở lên núi. Núi Cổ có cách đây hơn ngàn năm, ngày nay người ta đã xây cho du khách một lối lên gồm 780 bậc. Chúng tôi dừng lại ở một điểm thắp nhang, đèn cày trình Mẹ và được hướng dẫn đến một khe đá cầu nguyện và thảy hai đồng xu qua khe đá. Tương truyền rằng nếu cả hai đồng xu rơi vào cái vũng nước dưới khe thì bạn được thỏa mãn lời ước nguyện. Na ngồi bên cạnh và lắng nghe tiếng những đồng xu rơi và nói lại cho chúng tôi: chị Bình, Thúy được như ý, còn tiếng vang đồng xu tôi ném dường như to và lạ nhất trong đoàn và nó như tiếng đàn. Chẳng biết có phải lời nguyện cầu của tôi cho cả đoàn được tâm minh trí sáng, ngộ được tánh không mơ ngay trong kiếp sống này, cho cửu huyền trăm họ giải được hết nghiệp trần, cho tất cả những người già (tôi đang liên tưởng đến mẹ già của tôi ở nhà), người bệnh trước khi cởi bỏ chiếc mão trong vai diễn của mình không bị đau đớn hành hạ thân xác mà tiếng động lại vang lên một cách khác thường như vậy? Hai hàng nước mắt tôi tuôn trào…Một đồng tu đi bên cạnh thắc mắc tại sao tôi khóc? Phải rồi, lệ tuôn vì tôi cảm thấy thương xót cho ông bà tôi xa xưa vì đói nghèo phải kiếm miếng ăn qua ngày, không được đọc sách, học hành, không được gặp Minh Sư chỉ dạy cho tu hành một cách minh mẫn, nay tôi là người quá phúc. Tôi nguyện cầu cho mỗi bước chân tôi đi là nghiệp của cửu huyền nội ngoại, của ba tôi được tiêu trừ.

Núi Cổ còn hấp dẫn chúng tôi vì vẻ cổ kính, thanh tịnh. Chúng tôi bước vào đại điện thắp nhang, cầu nguyện. Những ngôi chùa ở Campuchia có những hoa văn khác với chùa Việt (các hoa văn giống như Tháp Chàm ở Nha Trang). Các bức tượng Phật được đặt ngay dưới đất chứ không ở trên bục cao hoặc bậc tam cấp như ở Việt Nam. Khi cúng dường các tăng, ni chúng tôi được họ đọc trả lại một câu kinh gì đấy và rảy nước Thánh thơm mùi hoa ngọc lan lên đầu và mặt chúng tôi. Tại đây chúng tôi kỉnh lễ dấu chân Cổ Phật và nguyện cầu gửi bỏ lại nơi này những bệnh tật của mình, Ông Bò (tượng con bò), thảy đồng tiền giấy xuống cái giếng khô để xem ước vọng của mình có trọn vẹn hay không, chiêm ngưỡng một cục đá 12 kg nổi trên mặt nước.

Khi còn ở nhà cô bạn tôi dặn nhất định phải thăm quan Ankor Vát và Ankor Thom, chùa vàng chùa bạc, tôi đã được biết: Ankor thuộc thành phố Siem Riep, cách thủ đô Phnôm Pênh hơn 300km. Quần thể kiến trúc đô thị, đền đài vĩ đại Ankor gồm 600 công trình nằm rải rác trong rừng rậm rộng 60km2, năm 1992 được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Lăng tẩm, đền đài mang đậm chất huyền thoại này được hình thành từ việc huy động toàn bộ sức mạnh vương quyền và vắt kiệt sức dân. Vua Giaiavacman II bắt đầu cho xây dựng Ankor vào thế kỷ IX đánh dấu thời kỳ huy hoàng nhất của dân tộc Khmer. Đến thế kỷ XII, vua Giaiavacman VII sau khi cho xây dựng Bayon, khu đền kỳ lạ nhất, lãng mạn nhất và giàu sức sáng tạo nhất của con người đã đánh dấu chấm hết cho triều đại Ankor.

Ankor Vát

Buổi chiều đoàn chúng tôi về thăm đền Ankor. Vé vào cửa là 20 USD một người nhưng do có hướng dẫn của Na và chị Huệ chúng tôi đã “làm tỉnh” vào cửa như một người Miên thực thụ nên đã trốn được vé. Người tu mà còn gian dối, xấu quá có đúng không các bạn? Một điểm lưu ý cho các bạn là nếu các bạn có hành hương như thế này xin đừng mặc đồ màu lam như các cư sĩ Việt Nam kẻo các bạn không những không “cải trang” được thành dân bản xứ mà không được vào những nơi tôn nghiêm như đền, chùa, và lên núi (nicô Hồng Ngọc trong đoàn đã phải cải trang thành nicô Khmer mới vào được đấy!).

Thật vậy, xếp sau ngôi đền Sri Ranganathaswamy nằm ở thành phố Tiruchirapalli của Ấn Độ, một ngôi đền Hindu quan trọng lớn nhất trên thế giới, được xây dựng cho Vishnu, một trong ba vị thần trong đạo Hindu với tổng thể ngôi đền đồ sộ bao quanh một khu vực rộng khoảng 63 ha với 7 bức tường đồng tâm, bức tường phía ngoài cùng có chiểu dài khoảng 4 km, có lối ra vào ở dưới những kim tự tháp đầy màu sắc và 21 lối đi tổng thể, lối đi lớn nhất có 15 tầng và có độ cao gần 60m, Ankor là ngôi đền lớn thứ hai ở Campuchia. Ngôi đền thường đi vào lịch sử và tín ngưỡng, tinh thần của rất nhiều tiểu thuyết cũng như những bộ phim hành động của Hollywood đó chính là ngôi đền mang tên Ankor Vát. Ngôi đền nổi tiếng nhất thế giới này là ngôi đền Hinđu đầu tiên, xây dựng cho Vishnu. Vào thế kỉ 14, 15 khi đạo phật được truyền bá rộng khắp ở Châu Á, nó trở thành một ngôi đền Phật giáo. Thế giới phương Tây cũng đã biết đến ngôi đền này khi một vị hòa thượng người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16 đã đến thăm ngôi đền và đã hùng hồn miêu tả nó như “một công trình xây dựng phi thường mà không bút nào tả được, đặc biệt là nó không giống với bất kỳ ngôi đền nào trên thế giới. Ngôi đền này có những chiếc tháp nhọn, những hình trang trí và tất cả những chọn lọc tinh tế mà trí tuệ con người có thể tưởng tượng ra”. Những lời nói của ông vẫn còn vang vọng đến tận ngày nay.

Ankor Vát được bao bọc một mặt bằng hồ sen lớn nước trong veo, rộng đến 190 mét, đường vào đền Ankor Vát là đoạn cầu đá dài bắc qua hồ nước bao quanh đền. Đền Ankor Vát hình chữ nhật, dài 1.500m, rộng 190m. Với chu vi gần 6km, diện tích khoảng 200ha, với 5 tháp khổng lồ, lớn nhất thế giới, tháp chính cao 65m tương truyền do những người phụ nữ xưa kia xây. Đó là những tảng đá màu xanh xám to có, nhỏ có nặng hàng tấn được xếp chồng lên nhau mà không có xi măng hay vôi vữa kết dính thành một cung điện theo tâm trí tưởng tượng của con người giống như trên trời Đế Thiên Đế Thích vậy nên người ta còn gọi nó là Đế Thiên Đế Thích. Chúng tôi dọc theo những hành lang cung điện dâng lễ, nguyện cầu, ngắm nhìn những hồ tắm của vua, ghé vào một cái ngách dựa lưng vào tường đá đấm lên ngực mình nghe tiếng trống trời trong ta âm vang.

Ankor Thom cách đó không xa, với khuôn viên rộng lớn hơn Ankor Vát theo truyền thuyết được những người nam xây nhưng do mải chơi, uống rượu nên đền đã không hoàn thành, khắp nơi ngổn ngang những phiến đá lớn, nhỏ đền chỉ có cái khung nham nhở vì thế nên khách tham quan dễ dàng nhận thấy trước cổng đền hai bên có 108 tượng nam bằng đá bị phạt không được vào thành do không hoàn thành nhiệm vụ, trong khuôn viên đền có 7 ngôi mộ của các bà hoàng hậu bị chôn sống theo vua khi thất trận. Ankor Vát, Ankor Thom là hai ngôi đền lớn từng là thủ phủ của đế chế Khmer.

Theo các nhà nghiên cứu, Ankor Thom là công trình đồ sộ nhất với hàng chục tòa thành. Hạt nhân của mỗi đô thị là một ngôi đền trung tâm trên một mặt bằng hình vuông, dạng đền núi, mô hình núi vũ trụ Meru, từ đó, tỏa ra 4 hướng Đông- Tây- Nam- Bắc. Đa số các quần thể đền núi ở Ankor Thom đều được xây dựng theo hình Kim Tự Tháp 3-5 bậc với 5 tháp trên đỉnh. Ở đường dẫn tới trung tâm tháp có hình các con sư tử, voi và rắn thần Naga. Tại nhiều diễn đàn khoa học quốc tế, nhiều ý kiến cho rằng việc gia công và vận chuyển hàng triệu khối đá sa thạch kích cỡ lớn và sắp đặt chúng theo hình mái vòm hoặc thể xây với độ vững chãi hầu như không suy suyển qua nhiều thế kỷ là những kỳ công dường như không phải của con người và đến giờ vẫn chưa lý giải được. Kỳ ảo và huyền diệu nhất Ankor Thom là đền núi Bayon, được Giaiavacman VII xây dựng vào thế kỷ XII. Trước khi vị vua này lên ngôi thì vương quốc Ankor đang bị quân Chàm đánh phá dữ dội. Sau khi giành lại đất nước từ quân đội Chàm, vua Giaiavacman VII cho xây dựng tường thành bằng đá cao 8m, hào rộng 100m để bảo vệ đô thành. Từ tường thành có 5 cửa vào, bên trên các cửa ra vào là các tháp có hình mặt người, 2 bên vào Ankor Thom là 54 pho tượng lớn ôm ngang thân con rắn vĩ đại, bên trái là các vị thần, bên phải là các quỷ.

Chúng tôi chỉ ngồi trên xe dạo một vòng ngắm Bayon – đền đá bốn mặt. Theo kể lại Bayon có 54 tháp, lô nhô như 1 rừng đá, trên mỗi tháp có 4 hình mặt người, tạc theo các huyền thoại của nhà Phật, tai nghe 4 phương, mắt nhìn 8 hướng, đang mỉm cười huyền bí. Người ta nói rằng, 216 nụ cười Bayon đều là gương mặt và nụ cười của vua Giaiavacman VII. Và theo tính toán của một nhà điêu khắc người Pháp, để chạm khắc tất cả những hình bằng đá ở Bayon thì phải có 1.000 nhà điêu khắc giỏi làm việc chuyên cần trong 20 năm. Bayon vì thế đã bừng lên rực rỡ đến mê hồn trong thời đại huy hoàng của Ankor, của lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật Khmer.

Tôi hiểu ra một điều sự tương truyền về những người nam, người nữ xây dựng Ankor là Tâmmơ của người dân cho rằng sự minh mẫn sáng suốt nảy nở, xóa bỏ vô minh bởi chính sự chăm chỉ cần cù của những người phụ nữ đã giúp họ thành công xây được đền. Họ đã vát tỉa, tu sửa chính mình để trang hoàng cho mình khung trời Đế Thiên Đế Thích. Sự đoàn kết yêu thương trong lao động và cuộc sống đã kết nối những người phụ nữ ấy và giúp họ thành công mãn nguyện, giúp cho những lời cầu nguyện từ sâu thẳm trái tim mình có thể vang xa vào trong không gian bao la của Vũ Trụ.

Sự hoang tàn của Ankor Thom khiến tôi mơ màng liên tưởng đến một Minh Sư nào đó đã giúp vua Giaiavacman dùng sự thần diệu của không gian bốn chiều xây dựng hai đền lớn cho vua, nhỏ cho hoàng hậu. Nhưng rồi trí tuệ đã được đặt bên cạnh “cùm Mơ” (Nguyên) MUỐNmơ để rồi sự tham lam, lòng đố kỵ, ganh ghét đã dẫn họ đến những cuộc chiến mà hậu quả là máu chảy, lệ rơi, cung điện nguy nga bị tàn phá, đất nước bị suy đồi. Thăm đền Ankor chúng tôi nhận được bài học về lòng từ bi bác ái yêu thương giúp đỡ giữa người với người – chìa khóa cho sự thành công và khai mở trí huệ. Trí huệ khai mở giúp cho con người minh mẫn sáng suốt, nhưng nó phải luôn được con người hướng THƯỢNG, đặt nó bên cạnh tình thương như âm với dương, gạt bỏ cái TÔI thì mới tồn tại bền vững và NGUYÊNngộ một ngày không xa. Ham hưởng thụ vật chất, lười nhác sẽ dẫn đến thất bại, vô minh hoài hoài: HAM mơ (tham sân simơ) – Mơ ham (Muốn: Tham Sân SiMơ) – HAM mơ – Mơ ham… dẫn chúng sinh luân hồi sinh tử mãi không thôi. Nam, dương tượng trưng cho tiên cảnh đầy khoái lạc tu khó thành; nữ, âm, tượng trưng cho trần gian khổ đau dễ đạt đạo, mơ tôi có đúng Mơ?



Ankor Thom vẫn còn dang dở?


Bayon với nụ cười bí ẩn?

Núi Tổ (tiếng Khmer Numklen) là một núi đã được tôn tạo để thu hút khách du lịch với vé vào cửa 20USD một người nằm ở Xiêm Riệp. Mùi hoa ngọc lan thơm ngát trước cửa chùa làm tôi xúc động nhớ tới trước kia khi mới được khai mở Thầy cũng dẫn dụ tôi bằng sự ban thưởng mùi hoa ngọc lan cho tôi. Chúng tôi lên lầu lạy Phật Tổ mà hình tướng được tượng trưng bằng tảng đá lớn được chạm trổ hình Đức Phật nằm. Năng lượng nơi này thật nhiều và thanh tịnh. Sau đó chúng tôi xuống núi theo một lối khác, thắp nhang lạy Mẹ Quan Âm, chụp hình kỷ niệm bên tảng đá mà khi lên hình người ta thấy rõ Tiên Ông đứng phía sau, rồi xá ông Cùi người mộ đạo, xem dấu con voi trung thành với chủ (ông Cùi) đập đầu vào đá mà chết. Tất cả chúng tôi múc một ít nước đem về dưới tảng đá lớn kỳ lạ, nó nổi trên mặt đất khoảng 3, 4 mét nhưng không hiểu vì sao ở giữa có nước quanh năm, người ta tin rằng uống nước núi đá ngàn năm hết mọi bệnh tật. Buổi trưa đến chúng tôi tản xuống bờ suối chia nhau những bát cơm thanh đạm và chụp mấy tấm hình kỷ niệm dưới suối, nơi mà người ta cho rằng có thể rũ bỏ mọi nghiệp chướng của mình nếu tắm mình trong dòng suối này. Một điểm lưu ý nơi đất Phật Campuchia tượng các vị Phật cưỡi (đứng trên) cá sấu chứ không cưỡi rồng hoặc cá chép như trong tâm trí tưởng tượng của người dân Việt Nam. Tối về được nghỉ ngơi trong một khách sạn làm chúng tôi bớt cảm giác nóng nực. Từ đây tới Biển Hồ chỉ có vài chục cây số nhưng chúng tôi đành lỡ hẹn Biển Hồ hẹn dịp khác vì phải quay về thủ đô chuẩn bị cho chuyến đi núi Tà Lơn (tiếng Khmer gọi là Bokor – Bốc cô) ngày mai.

Nung nấu ý mơ Phật Tổ là Phật Thầy Tây An, là Mẫu Mẹ Quan Âm Bồ Tát tôi cùng các đồng đạo hưng mơ Mingh mẫn MƠ một ngày hình tướng các Vị Tổ Thầy đi trước mất dung MÃO Mơ chung MơMơ Tánh Khôngmơ HÌNH TƯỚNG để Thành Đạo. Một quá trình thay đổi TÂMmơ theo chiều hướng đi lên, tiến bộ là: mừng MÙNG (VÔ MINH) mở Mơ (tự tánh hé lộ) – mừng Lão ÂMMơ (QUANÂM) mở MINH MẪN Mơ cho chúng tôi (Tâm THANH tịnh) – Mẹ Quan Âm là Tôi, Các bạn TÔI, là Âm Thanh Tuyệt Diệu của Vũ Trụ (MINH MẪNmơ) – Mở MƠ (cho) TÔI, MƠ (cho) BẠN (còn Nguyênmơ)? Mơ Tôi MẦU Mơ? Hìngh tướng làm cản trở sự tiến bộ trong tu tập? Bạn tham thiền ngộ Nguyên TÂM là ngộ Âm Mơ hay hìngh tướng mớ? Âmmơ MINH MẪN là ÂM mở từ sự CẢMmơ của thân mơ, khẩu mơ, ý mơ? Và MỘTmơ là MỘTmộtMột Mơ do (vì) TataTa Mơ hìngh tướng của TÂM giả Kiến tánh Mơ? MƠmơMơ là HÌNGHTƯỚNGCẢNminghmẫnMơ, TANmơ là HẾT NGHIỆP do (bởi) Mơ HẾT.

Chúng tôi đã có một buổi tối ở Nam Vang không có gì vui vẻ lắm vì được biết chuyến đi Tà Lơn ngày mai chưa chắc thành công: Na cho biết Tà Lơn là núi quốc cấm nhưng có rất nhiều người tu từ Việt Nam lặn lội qua đây đi chui nhủi trong rừng rậm và nếu kiểm lâm bắt được họ sẽ phạt 200USD một người, và có nhiều người trên 70 tuổi chỉ ước ao một lần lên núi Tà Lơn chết cũng thỏa nhưng họ đã không thể lên được, vả lại nếu có lên núi thì ngày 29 âm lịch họ mới cho lên với lý do mang đồ lên chùa trên núi, còn hôm nay mới là ngày 27, quĩ thời gian chúng tôi không có nhiều... Với tôi, tôi chỉ biết đây là một núi đầy huyền linh, nơi Ngài Cử Đa đệ tử của Phật Thầy Tây An tu và đắc đạo Tiên ở đây.

Chúng tôi rời nhà lúc 6 giờ sáng ngày 28/4 thẳng tiến về tỉnh Cambode, ghé chợ mua bông, trái cây và đi “hú họa” trong kiên quyết. Xe dừng lại trước cổng đường lên núi, tôi ngồi phía trước cầm bông để tỏ vẻ cho thấy đoàn lên chùa cúng Phật. Sau một hồi lâu Na nói chuyện với những người gác cửa chúng tôi được phép lên núi phải trải qua 30km xe chúng tôi mới đến được chùa Nam Thiền. Chúng tôi diện kiến ông Lục, chủ trì chùa, người Việt nam duy nhất tu ở chùa này. Mây mù tỏa hơi lành lạnh, rồi những giọt mưa sớm của mùa mưa năm nay khiến chúng tôi liên tưởng đến Đà Lạt quê nhà. Sau bữa cơm trưa cháu Minh (tu sĩ chùa Phước Điền An Giang) đề cập đến việc lội bộ đi tiếp. Tôi không hiểu là đi đâu nhưng cứ nghe loáng thoáng là xuyên rừng khoảng 60 km cả đi lẫn về là nhụt chí quyết định không đi. Ý tôi lúc đó cũng giống bốn người đoàn thành phố (cô Diệu, chị Bình, chị Bích, Thúy). Để khuyến khích mọi người không sợ khó, sợ khổ Minh kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện có người đi rừng bị lạc nhưng gặp được ông già cho trái cây, thức ăn, chỉ lối ra nhưng đến khi gặp lại mọi người tất cả đều xác nhận ở đó chỉ toàn là cây. Tôi vẫn quyết định ở lại, và cứ nghĩ mọi người đã ra đi với một cái xoong, mấy ổ bánh mì, vài gói mì ăn liền và yên trí đi rửa chén. Một cảm giác nuối tiếc vụt lên trong tôi, nhưng rất may Minh đã quay lại và bảo chưa đi. Nắm cơ hội xuýt bị vuột, tôi quyết định đi và chỉ kịp chạy lên nhà nghỉ báo với mọi người cùng đoàn, mang theo một bộ đồ, chiếc mền xỏ vào đôi dép có quai hậu mà chị Bích đổi cho. Tốp xuyên rừng chúng tôi gồm tôi, cháu Minh, anh Hai (ba cháu Lãm tu ở chùa Phước Điền ngày xưa đã dẫn chúng tôi hành hương ở vùng Thất Sơn), và Thảo, Thái một cặp uyên ương sắp cưới. Tôi đã không kịp hỏi Minh đi đâu chỉ nghĩ là đến một ngôi chùa nào đó trong rừng nên cắm cổ đi. Chúng tôi lầm lũi đi trong sương mù, rồi mưa bắt đầu rơi mỗi lúc một nặng hạt. Khung cảnh trước mắt chúng tôi hiện ra mỗi lúc một đẹp. Cháu Minh cho tôi biết đây là Lan Thiên. Chỉ có thể là một nhà văn giỏi mới có thể tả hết được cảnh đẹp ở đây. Rất tiếc tôi là một người dở văn chương nên chỉ có thể “chép” lại bức tranh thần tiên này bằng ngôn ngữ sơ sài mong bạn đọc thông cảm. Thật vậy, đó là một “bình nguyên” đá bằng phẳng màu đen có, bảy màu có, có rất nhiều những tảng đá to nặng hàng tấn hình con cá sấu, chim, trâu, qui, rồng… tha hồ cho tâm mơ của bạn vẽ thú trong một rừng cây kiểng các loại, chả thế mà Ngài Cử Đa trước kia có để lại trong cuốn “giảng Tà Lơn” của mình là:

“LAN THIÊN một kiểng chép chơi.
Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng:
Hiu hiu gió thổi đùng đùng,
Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai,
Mùa xuân tới kiểng lầu đài,
Tháng giêng mùng chín thi tài hùng anh,
Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,
Bồng lai một cảnh hữu danh tư bề”.

Vâng, những bước chân cao thấp của tôi dưới mưa, thình thịch trên cát trắng và đá màu khiến tôi ít có thời gian ngắm nhìn toàn cảnh bức tranh nhưng mỗi lần nhìn lên tôi thấy mình quá nhỏ nhoi, quá yếu đuối trước thiên nhiên lớn lao, núi rừng hùng vĩ. Đã có lúc tôi nghĩ đến đường xa mà hối hận cho quyết định của mình nhưng rồi tiến thoái lưỡng nan, đành phải chú tâm vào mỗi bước chân của mình với ý nghĩ cứ đi rồi sẽ đến. Lan Thiên cái tên gọi làm cho người ta thoáng nghĩ đến hoa lan hay phong lan của cõi tiên. Cây cảnh trên này rất nhiều đặc biệt là cây có hai loại lá gọi là bá tùng (lá của hai cây bách và tùng trên một cây), mai trắng, mai hồng năm cánh, cánh hoa mai rất dày, có lẽ mùa này lan rừng ít trổ bông nhưng tôi cũng hái được một bó bông địa lan màu hồng cánh sen định bụng tới nơi dâng cúng Thầy Mẹ.

Về điểm lạ, quí của cây kiểng bá tùng người ta có câu ví von:

“Người tu như thể bá tùng,
Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn”

Tôi, các bạn hẳn chúng ta ai cũng muốn như cây bá tùng, từ cái nhị nguyên của hai loại là tùng, bách hợp nhất trở về nhất nguyên của một cây dũng mãnh trước phong ba bão táp có đúng không?

Minh hái cho tôi một bông hoa màu vàng từ một chùm dây bò như dây khoai lang, có đuôi phía dưới như đuôi hoa loa kèn, đầu nó giống như đầu dương vật thường được gọi là trái nước, bảo tôi bật nắp hoa ra uống nước trong đó và giải thích thêm cho tôi biết xưa kia Tổ Thầy đi rừng dùng loại nước từ hoa này để giải khát và tăng thêm sức lực, nó là kết tinh của sương và chỉ nên dùng những bông hoa chưa bị bật nắp, cây có tác dụng giải độc gan vì thế khi trở về chúng tôi đã hái một ít mang về nhà nấu nước dùng thử.

Chúng tôi dừng lại chùa Bình Thiên (nay đã bị tàn phá chỉ còn lại dấu tích cái mái) dâng những bông hoa lan hồng đẹp nhất thế gian lên Tổ Thầy và ước nguyện tinh tấn tiếp bước theo chân các Vị Tiền Bối.

Mưa vẫn rơi, cái túi đằng sau tôi thực sự làm phiền tôi, nó trở nên quá nặng và thít chặt vào hai vai làm tôi phát nghẹt thở nên đành gửi lại cho cháu Minh mang giúp. Minh phát hiện một con rùa trước mặt nói với tôi và lẩm bẩm nếu trước lúc đi mà thấy con rùa này thì sẽ ở lại, còn tôi thì cho rằng đoàn đang được một trong tứ linh đón đường chào mừng. Đi được một quãng lại thấy một con cá to tung tăng lội trong nước tôi cảm nhận mọi thứ sẽ suông sẻ. Ở Bình Thiên chúng tôi phải băng qua hai con suối trong đó tôi đã suýt bị một con suối nước lớn cuốn trôi may mà có ba người nam giới kéo lên. Chắc bạn cũng muốn biết lúc đó cảm giác của tôi như thế nào? Chả là tôi không biết bơi nên khi bước xuống nước lạnh sâu ngập tới bụng tôi có cảm giác như bị ngợp nhưng rồi ý chí mạnh mẽ khiến tôi hết sợ, ngay cả lúc bị trôi tôi vẫn bình tĩnh nghĩ rằng sẽ vượt qua được hiểm nguy: người đi hành hương bao giờ cũng có Trời Phật độ, tôi có quá Mớ (“hợm hĩnh”) không?

Chúng tôi lần lượt dừng lại kỉnh lễ nơi Cổng Bàng Ngự (hai cột đá có hình như cái trụ), dừng chân quan sát Ruộng Năm Dây (những hòn đá màu đen to ước nặng hàng tấn ở đây có hình như chiếc bánh xu, xếp thành năm hàng, khi Đức Thầy – Đức Huỳnh Giáo Chủ đi ngang đây đã đặt cho nó cái tên là đàn năm dây), băng theo đường mòn trong rừng và dừng chân ở Tứ Giao Điện (nơi ông Cả – Thân sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ tu tập và NGỘ đạo) lúc 17g30. Tứ Giao Điện là một tảng đá tự nhiên rất lớn bằng phẳng được chống bởi các hòn đá tự nhiên khác tạo thành một cái động đá có 4 cửa ra vào. Tôi thật ngỡ ngàng vì cứ tưởng mình phải được tới một cái chùa nào đó có mái che và thú thật có phần hơi thất vọng vì công sức chuyến đi của mình. Chúng tôi làm lễ cúng các Vị Tổ Thầy và giăng chiếc bạt bằng ni lon trên một tảng đá lớn ngủ qua đêm. Hơn năm tiếng đồng hồ dầm mưa trèo đèo lội suối băng rừng hơn hai mươi cây số ai nấy đều ướt mèm nhưng thật may tôi còn được một bộ đồ mang theo còn khô và tấm mền hơi ẩm. Tôi cảm thấy thật sự khỏe mạnh tỉnh táo lạ thường ngoại trừ ống quyển bị sưng trầy do thụt hố vì trời mưa nhưng không có cảm giác bị đau đớn (?) Thái bị lạnh và sốt nên li bì suốt đêm sáng mới khỏe lại, còn anh Hai cũng thấm lạnh phải thoa kem mới chịu nổi, cháu Minh thường dẫn các đoàn lên đây nên không hề hấn gì, còn tôi không ngủ suốt đêm tha hồ nghe tiếng những con ve sầu rền rĩ và tiếng nước suối ầm ì quanh đây vì đây là lần đầu tiên trong đời tôi nằm ngủ trong rừng sâu dưới trời mưa lạnh. Trong đoàn chỉ có Thảo nằm ngủ với bộ đồ ướt một cách ngon lành và có cảm giác là được ngủ trong nhà có mái che ấm cúng, nghe tiếng ông già và ai đó nói lao xao nhưng không rõ mặt. Sáng hôm sau chúng tôi lạy các Vị Tổ Thầy, dời gót khi trời còn nhập nhoạng. Dọc đường về chúng tôi ghé thăm hồ sen bằng đá (nói là hồ chứ thật ra là cả thiên bàn đá xanh đen hay xanh xám hình lá sen to như những chiếc bàn dài khoảng một thước, rộng 4 hay 5 tấc đặt trên ao – “sàn đá”), Minh còn chỉ cho chúng tôi những hạt sen bằng đá. Điều này khiến chúng tôi liên tưởng đến chín phẩm Sen Vàng biểu tượng cho Tây Phương Cực Lạc Quốc Độ và mơ màng nghĩ đến khi Đại Hội Long Hoa mở Mơ MINH MẪN cho tất cả chúng sinh ai là người có vinh hạnh được dự và chiêm ngưỡng nó? Làm thế nào để nó luôn ở trong TÂMmơ của mỗi chúng ta?

Tôi tiếp tục ngắt những bông hoa địa lan với tâm nguyện thay người mẹ đang ốm yếu vì bệnh tật, già nua, thay cửu huyền thất tổ nội ngoại dâng lên Thầy Mẹ cầu xin cho họ được khỏe mạnh, an lạc, gia đạo gặp mọi điều tốt lành. Cháu Minh đi nhanh quá, nhưng tôi cũng phải cố gắng để không thể rớt lại sau nó nhiều vì phải chú tâm vào việc tìm hoa trên đường đi. Lạ thay những bước chân tôi như nhanh hơn, nhẹ nhàng hơn, tôi quên cả mệt mặc dù phải cúi xuống rất nhiều để hái hoa. Tôi đã có trong tay một bó hoa nào địa lan màu hồng cánh sen, nào lan rừng màu vàng trắng, nào những cành bá tùng, nào là… hoa gì ấy hay cỏ dại có hoa màu trắng mà tôi không biết tên gọi của nó để dâng Phật rồi. Đường về không mưa nhưng nước trong khe núi vẫn chảy đều, chúng tôi vẫn phải dầm chân trong nước lạnh, vấy cát, đá. Còn khoảng 10 km nữa là về đến chùa Nam Thiền nhưng may sao chúng tôi gặp chiếc xe ben chở đất và được người tài xế tốt bụng cho quá giang. Tôi thở phào nhẹ nhõm, xúc động thầm cảm ơn Thầy Mẹ, các Đấng Thiêng Liêng, các Sơn Thần đã nương cho đôi chân chúng con theo dấu các Vị Tổ Thầy, đi tới nơi về tới chốn an toàn.

Sân chùa hôm nay chật ních xe hơi vì là ngày cúng nên các phật tử tụ họp về đây. Tôi dâng bó bông đa sắc, thật đẹp ấy lên Ngôi Tam Bảo. Cái dư âm của Lan Thiên, Bình Thiên, Tứ Giao Điện gây ấn tượng quá mạnh trong tâm trí tôi. LAN là gì bạn nhỉ có phải là HOA ĐA SẮC? LONG HOA? Hoa MƠ ngày nào năm xưa rời núi Dài tôi chưa kịp hái dâng Mẹ? Hoa Tình Thương? Hoa của ngày mừng gặp Mẹ Cha? THIÊN có thể là là…Tiên Cảnh của Thế Giới Đại Đồng? Của Tây Phương Cực Lạc Quốc Độ? là là…MUÔN HOA ĐUA NỞ KHOE SẮC MÀU? Là ngày mùng (vô minh) mở mingh mẫn sáng suốt đến? Là gì nữa... tự bạn Mơ tiếp đi.

Các thành viên trong đoàn có lẽ cảm mơ không giống tôi. Cô Diệu, lão Bà Bà chúng tôi hay gọi đùa như thế vì là người lớn tuổi nhất đoàn, năm nay đã 73 tuổi, ngồi thiền trên phiến đá chùa Nam Thiền thì thấy như được ai nâng mình lên cho ngồi trên tọa cụ và dịch đi khoảng 10 cm. Cô nói: “Tôi không hôn trầm, không bị mê, rất tỉnh táo là khác và khi được cảm giác đó tôi đã xúc động đến trào nước mắt”. Chị Bình mô tả cảm giác của mình khi thiền trước mắt xuất hiện một người không hiểu là Bậc Tiền Bối hay vị trụ trì chùa quá cố trong ánh sáng màu vàng, tím rồi hồng. Thúy là một người ít tin khi đi hành hương với tôi chỉ với một nguyện vọng nhờ tôi chữa bệnh giúp cũng phấn khởi thông báo rằng mặc dù ở đây mưa nhưng cái sẹo lồi trước ngực không bị nhức như trước đây.

Khoảng một giờ chiều ngày 29 sau khi cúng dường chùa chúng tôi rời Tà Lơn lên đường trở về Pnôm Pênh dự định cho chuyến đi Đền Vua sáng ngày mai, với đầu óc minh mẫn tỉnh táo, tinh thần phấn chấn, thân xác khỏe mạnh nhẹ nhàng hơn, gởi lại cho núi cảm giác lúc đau, lúc sượng nơi đầu gối trái, ngón chân cái lúc nào không hay. Giấc mơ thăm Đền Vua của chúng tôi đã không thành vì đêm qua cũng như hai tối trước chúng tôi ngủ không đóng cửa chỉ khóa cổng nên bị ai đó cuỗm mất chiếc túi xách trong đó có 2 cái hộ chiếu của tôi và chị Bích nên cả đoàn quyết định về Sài Gòn sớm hơn dự kiến bằng chuyến xe của Mai Linh.

Tạm biệt nước bạn, chúng tôi cảm ơn đất nước của 13 triệu dân với 2000 năm lịch sử, cảm ơn Na, Huệ, bé Xí Mía con gái Na, Thủy, cháu Minh những người bạn đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình hết lòng dẫn dắt chúng tôi đến những nơi địa linh giúp chúng tôi có thêm hiểu biết về con người, văn hóa, tâm linh của một dân tộc. Rồi đây sau chuyến đi này chúng tôi sẽ phát huy đem những kết quả gặt hái được từ chuyến đi áp dụng vào cuộc sống, sự tu tập của mình hầu mong đạt nhiều tiến bộ, minh mẫn sáng suốt hơn nữa trong cách cảm nhận sự mơ (việc). Xin trích dẫn lời chỉ dạy của Ngài Cử Đa cho người non mơ Mơ đời Mơ hiểu được giá trị của giấc Mơ MÃO (cuộc sống hiện tại là HUYỄN HOẶC nhưng rất QUÝ GIÁ vì nó là MƯỢN MƠ Đối – Thiền đốn NGỘmơ):

“Ở ăn độ lượng thường thường đừng sai.
Nếu mà lòng dạ một hai,
Mấy đời cho đến Bồng Lai đặng nào.
Ngụ cư Sơn Lãnh một ngày,
Xuất ngôn vô độ đọa đày chẳng không.
Tuy là non núi mênh mông,
Xét soi chẳng sót mảy lông chỗ nào,
Mặc ai lòng dạ cách kiêu,
Thiên Môn Địa Ngục lẽ nào liệu toan.”

Mơ màu nhiệm Phật Độ chính là ta tự độ ta, Mơ mingh mẫn MƠ là gắn kết Cảm Mơ không hình tướng Mơ, dung huyễn mơ để ngộ phật mơ. Muốn Mơ Mingh mẫn NGUYÊN NGỘ Mơ người tu phải giải nghiệp cho TÂM THANH TỊNH bằng cách phát Tâm tu giải thoát luân hồi sinh tử, Mơ TÁNH KHÔNG cho hình tướng tan biến trong biển mơ bất tận của Vũ Trụ còn lại TÁNH KHÔNG (có) Mơ. Ai đó còn còn mê man trong biển lửa của sinh tử nên tự cứu mình bằng cách niệm phật liên tục, Ngộ MƠ rằng tu sửa Thân TÂMmơ cho đẹp đời tốt đạo. Dù lên non hay xuống biển Mẹ Âu Cơ hay Cha Lạc Long Quân vẫn tạo mọi cơ hội cho chúng ta thực tập dung Mơ THIỀN ĐỐN Ngộmơ. Với hôm nay Non cao là Biển cho Tâm MƠ của chúng ta. Hãy đến với núi rừng trùng điệp để Âm MƠ vang mãi khiến trái tim chúng ta luôn cháy bỏng khát vọng yêu thương. Hãy nở HOA TÌNH THƯƠNG – LONGHOAHỘI Mơ nhân loại ĐẠI ĐỒNG trong một ngày không xa. Muốn khai mở TRÍmơ hãy cảm nhận tình thương của MẸ HIỀN từ những dòng suối cuồn cuộn đến những vách đá cheo leo, từ làn sương mù mang đầy hơi nước cho đến những tia nắng ban mai chen qua kẽ lá cùng tiếng chim hót, ve ngân. CHA LÀNH – ĐẤNG TỐI THƯỢNG vẫn luôn dõi theo từng bước đi của đàn con thơ chờ mong ngày gặp mặt khi Long Hoa mở Hội.



Lan Thiên Muốn MUỐN Mơ HOA?
(Hoa Nepenthes - cây trái nước ở Lan Thiên)

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 5 năm 2009
Nhằm mùng 11 tháng Tỵ năm Đinh Sửu

Sunday, May 18, 2008

# Kỉ Niệm về một Chuyến Hành Hương

Người trình bày: Thái Minh Mẫn

Chân cứng đá mềm

“Một ngày bằng mấy trăm năm người ơi!” Chẳng biết câu “than thở” mà người ta hay “rền rĩ” như vậy xuất hiện từ đâu, song đối với tôi (Minh Mẫn) đó là chặng đường dài của kiếp người luân hồi sinh tử. Muốn thoát khỏi cảnh trầm luân của một ngày đó, người ta không còn con đường nào khác là đi tìm CHÂN LÝ. Hành hương đi tìm chân lý cũng là một trong các “thủ pháp” của người tu.

Nói đến Thất Sơn thì ai cũng có cảm giác rằng vùng này chứa đựng biết bao huyền bí mà người nào có hiếu kỳ đến đâu cũng khó mà tìm hiểu cho tận tường. Tôi thích đi vùng Bảy núi vì có thể thu được nhiều thanh điển, và thực tập thiền định, gom ngươn thần hàng giờ mà không bị ai quấy rầy.

Tôi thức giấc sau một buổi trưa ngủ chập chờn, vì nghe Thày đánh thức “con điện thoại bảo bà Lành trở về nhà cùng đi núi.” Sợ mình tự kỷ ám thị nên tôi thưa với Thày: “Thày ơi có phải con tự kỷ ám thị?”

“ Không, Thày nói đó.”

Một buổi chiều khi tôi đang thực tập luyện công phu, bà Lành (người cho phép tôi được gọi bằng mẹ) nói cho tôi biết có một người bạn của Vũ, con mẹ Lành, hiện đang sinh sống ở bên Nga, bị rất nhiều bệnh, đã uống thuốc hai năm rồi không bớt, hiện đang về Việt Nam chữa bệnh và bảo tôi xin Thày cho họ bài thuốc chữa bệnh.

“Chào thày,” tiếng Tiến, người bạn của Vũ trong điện thoại. Tôi giãy nảy bảo xin anh cứ xưng hô bình thường tôi có làm gì mà anh kêu tôi bằng thày. Thế là anh bạn bắt đầu kể cho tôi nghe những chứng bệnh mình mắc phải và được tôi đề nghị bay vào thành phố Hồ Chí Minh để gặp tôi.

Một trung niên trắng trẻo, đẹp trai nhưng gương mặt có vẻ mệt mỏi. Tôi giúp anh bạn chữa bệnh lần đầu tại nhà mẹ Lành và hai lần sau hẹn tại bệnh viện nơi tôi đang chăm sóc người mẹ ruột bị ngã chấn thương sọ não. Qua trao đổi người bệnh trở thành bạn học cùng khóa ngoại ngữ, khoa dự bị đại học ngoại ngữ ở Thanh Xuân - Hà Nội năm xưa, thật là mừng vui. Tôi đề nghị bạn cùng tham gia chuyến đi núi để tôi tranh thủ thời gian gần người bạn và chữa cho.

Phóng nhanh từ bệnh viện về nhà, tôi thắp nhang quì xuống chân Thày Mẹ, các Đấng Thiêng Liêng, cửu huyền thất tổ nội ngoại cầu xin Ơn Trên gia hộ cho đòan đi được bình an, khai mở trí huệ, tu tập tiến bộ sau chuyến đi núi, thuận lợi về thời tiết vì mấy bữa nay ở Sài Gòn mưa quá.

Tiến đã rất khó phải quyết định cùng trèo núi cùng chúng tôi, nhưng được động viên, nên đúng 10 giờ sáng, ngày thứ năm 1/5/2008 (tức 27/04 năm Mậu Tý), dưới sự dẫn dắt của Thày, đoàn chúng tôi gồm 10 người: mẹ Lành, bố Thuận (chồng mẹ Lành), vợ chồng anh Tứ - chị Nga, anh Hưng, Hiểu, Quang (lái xe), Hùng (lái xe), Tiến và tôi xuất phát.

Hai chiếc xe đời mới bon bon thẳng tiến

“Về An Giang với lúa đồng thơm ngát
Nước Thoại Hà tưới mát quê hương
Qua nhịp cầu Hoàng Diệu mến thương
Đây Châu Đốc Tây An Cổ Tự”

Mười hai giờ trưa chúng tôi tìm một quán nước sạch sẽ dọc đường dở bánh chưng, ngô luộc, bánh mì phô mai ra thay cho bữa trưa. Bốn giờ chiều ngày hôm đó chúng tôi đã “trực chỉ” chùa Phật Tây An hay còn gọi là chùa Phước Điền hay Trại Ruộng.

Trại Ruộng ở xã Thới Sơn, huyện Nhà Bàn cách núi Sam hơn 10 kilô mét. Ngày xưa khi lập xong Đức Phật Thầy Tây An giao cho ông Tăng Chữ và ông Đình Tây ở giữ. Tại Phước Điền Tự còn có hai đôi liễn thờ ở bàn chánh và ngoài cửa ngõ. Người ta bảo là của Đức Phật Thầy chỉ cho tín đồ viết và lưu truyền đến ngày nay.

Cảnh chùa vẫn như xưa thật thanh tịnh và có phần đẹp hơn trong mắt tôi. Chúng tôi thăm lại giếng Tiên (tục truyền nơi đây Đức Phật Thầy Tây An dùng huyền linh lấy nước giếng chữa bệnh cho dân), thăm hồ (ao) sen trắng mà năm ngoái khi chúng tôi xuống, nơi đây khô cằn không có một giọt nước, bà Lành hảo tâm đã giúp nhà chùa làm hệ thống máy bơm lấy nước từ con kênh vào cho dân vùng này xài. Mùi hoa sen thoang thoảng khiến tôi thầm ước có thể lội xuống, ngắt những bông sen đẹp nhất dâng lên Đức Phật Thầy. Cây cột phướn vẫn sừng sừng trước sân chùa với hai “Ông hổ” bảo vệ hai bên. Chúng tôi vào điện thắp những nén nhang dâng lên Đức Phật Thầy sau hơn sáu tiếng đồng hồ di chuyển.

Đón chúng tôi là anh Hai Béc trụ trì chùa và cháu Lãm. Tôi và mẹ Lành là người trong đoàn lần thứ hai tới chùa này. Anh Tứ thì đã thành “thân chủ” vì đã đến đây lần thứ ba. Anh Hai Béc giới thiệu cho đoàn biết một số hiện tượng khó giải thích xảy ra trong chùa như có một dạo cột chùa nóng như lửa đốt 4, 5 ngày xã có cử người xuống khảo sát và kết luận nóng do dây điện, nhưng chúng tôi thấy sợi dây điện chạy cách xa cây cột, và anh Hai Bec chỉ cho chúng tôi một bà mẹ có đứa con chừng 7, 8 tuổi tim bị ngừng đập ở bệnh viện. Mẹ cháu bế nó vào chùa này một hồi nó tỉnh lại và hiện đang chạy chơi tung tăng.

Năng lượng ở đây rất nhiều, chúng tôi vừa nghe anh Hai Béc giới thiệu vừa tĩnh tâm thu năng lượng.

Cây cột phướn sừng sững trước chùa

Tôi thật sự lo lắng: với trách nhiệm làm “hướng dẫn viên du lịch” cho đoàn nhưng cho đến bây giờ chưa biết nói với đoàn mình sẽ đi đâu. Tôi “thầm” hỏi, Thày chỉ dạy: “Điểm đầu tiên Tà Lơn.” Thế là đề tài đi Tà Lơn một địa điểm núi hùng vĩ, nhiều màu nhiệm, đẹp đẽ được đưa ra tranh luận, cuối cùng chúng tôi thất vọng vì chuyến đi Tà Lơn phải mất ít nhất 7 ngày trong khi chúng tôi được Thày cho phép hành hương có 3 ngày, mặt khác nó lại nằm bên kia biên giới. Chúng tôi mừng trong bụng và nghĩ rằng Thày đã “chuyển” đi Tà Lơn vậy là trước sau cũng có ngày chúng tôi được đặt chân tới đó.

Bữa cơm tối tại Trại Ruộng thật ấm cúng, tôi ăn ngon lành, nhưng chắc Tiến không ăn được vì bệnh tật và mệt mỏi. Thấy bộ bàn ghế ăn cơm của nhà chùa cũ kỹ quá, mẹ Lành, anh Hưng, Tiến, và tôi đóng góp một ít để đóng thêm mười bộ bàn ghế ăn cơm cho chùa. Tất cả chuẩn bị để mười giờ tối ra sân chùa ngồi trước cột phướn như Thày mật lệnh cho chúng tôi. Tôi thầm nguyện xin Thày ban điển thiêng và cho chúng tôi được thấy linh ảnh Thày, hoặc Đức Phật Thầy Tây An như chuyến đi hồi năm ngoái.

Thày chỉ dạy cho tôi: cột phướn là biểu tượng sự kết hợp âm dương nói nôm na nó như một cây “thu lôi” (thu năng lượng vũ trụ). Tôi có cảm nhận hình như cột phướn được dựng lên theo một nguyên tắc và ở những nơi nhất định. Tôi nhớ lại trong chuyến đi núi năm ngoái, mười hai giờ đêm tôi và mẹ Lành cũng đã được cô Năm Thảo hướng dẫn theo “mật lệnh” của Mẹ ra trước cột phướn của một ngôi chùa đạo Cao Đài trên núi Ông Cấm để nhận điển Cha. Và đêm ngày mùng tám rạng mùng chín tháng giêng năm Đinh Hợi (2007), mẹ Lành, tôi, anh Tứ và cô Năm Thảo cũng quì dưới chân Cha ở Tòa Thánh Tây Ninh. Trước Tòa Thánh cũng có cây cột phướn mà Đức Hộ Pháp có đề cập tới sự phát triển của cây bồ đề trước sân với nó (cột phướn) báo hiệu ngày Đại Hội Long Hoa. Phải chăng những điểm đó là những “huyệt đạo” chính của Trái Đất trong thời kỳ Vũ Trụ dịch chuyển này?

Buổi tối ở miền quê yên tĩnh nên mới tám giờ khách hành hương viếng chùa đã buông màn đi ngủ. Sau bàn trà chỉ còn lại tôi, anh Hưng, Tiến là hai bệnh nhân của tôi, Hiểu và cô Năm Thảo (người bạn đạo chuyến trước làm hướng dẫn viên cho đoàn tôi và mẹ Lành lên thăm chúng tôi).

Muỗi nhiều quá! Tôi chữa bệnh cho anh Hưng và Tiến sau cùng. Tôi rất mừng vì cả hai đều có cảm giác bớt, nhẹ nhàng hơn sau khi chữa. Đúng mười giờ tất cả thành viên trong đoàn tự động ra sân chùa trước cột phướn ngồi thiền. Tôi giúp Tiến mang chiếc ghế tựa ra ngồi vì Tiến bị đau lưng không ngồi bệt sát đất được.

“Lạy Thày, muỗi nhiều quá, con xin Thày ban điển và huyền linh cho anh em trong đoàn.” Chúng tôi ngồi thiền khoảng nửa tiếng, chẳng ai nói gì và thấy gì cả. Họ đã trở vào màn đi ngủ. Tôi lạy Thày 12 lạy và trở vào đàm đạo với Hiểu và đặt lưng vào lúc 1 giờ 20 phút sáng.

Sáng dậy, ngồi trong màn cô Năm Thảo nói với tôi: chuyến đi đợt này sẽ bị đảo lộn cho mà xem vì chị không ghé vào điện Mẫu (tại nhà cô Năm) thắp nhang trình Mẫu chuyển, em đã nói với anh Hưng ngay từ đêm qua. Tôi vội vã phân bua vì nghĩ rằng ở đâu cũng có Cha Mẹ cả, tôi đã trình Cha Mẹ trước khi đi. Mà quả thật khi đi ngang cô Năm Thảo không một ai trong đoàn có ý nghĩ ghé điện Mẫu trình Mẹ. Mẹ từ bi không bao giờ trách lỗi chúng con đúng không thưa Mẹ? Nhưng dù sao tôi vẫn muốn cô Năm thông cảm cho chúng tôi, nhất là tôi “người có được điển Thày,” chúng tôi vẫn nhớ ơn cô hướng dẫn trong chuyến đi núi năm xưa, nhờ đó chúng tôi được quì dưới chân Mẹ ở Điện Mẫu nhà cô, nhờ đó chúng tôi biết được Trại Ruộng…

Sau bữa ăn sáng và hỏi chuyện một vài người vừa đi Tà Lơn về về chuyến đi Tà Lơn của họ, đoàn chúng tôi chia tay và cảm ơn sự tiếp đón, giúp đỡ của các huynh đệ chùa Phước Điền.

Điểm đầu tiên trong chuyến “hành trình về phương đông II” của chúng tôi vào tám giờ sáng ngày 2/5/2008 là núi Ông Két.

Núi Ông Két (Anh Vũ Sơn) nằm trong thất sơn, có độ cao 225 mét, dài 1100 mét, ngang 1000 mét, thuộc địa phận Thới Sơn, Nhà Bàn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Người ta gọi núi Ông Két vì mỏm đá giống hình con két.

Mẹ Lành ở lại dưới chân núi lo hậu cần cho đoàn, hai bác tài ở lại trông xe trong sân một nhà hàng lý tưởng ngay dưới chân núi. Tiến đi cùng tôi một đoạn đến chân núi thì quay ra nhà hàng và bảo bạn đi đi tớ quay về vì mệt leo núi không nổi đâu.

Những bậc thang thoai thoải dễ đi nhưng cũng khiến chúng tôi phải mất 30 phút mới leo lên được trạm đầu tiên, điện Ông Két. Tội nghiệp nhất là anh Hưng: càng lên cao tim càng bị ép khó thở tưởng chừng như phải bỏ cuộc nhưng với quyết tâm cao anh Hưng là người cuối cùng cũng leo lên được.

Cảnh núi non hùng vĩ, xa xa những dãy núi mờ ảo, những cánh đồng lúa xanh mơn mởn, gió mơn man da thịt chúng tôi, thật là bồng lai tiên cảnh chứ không phải trần gian. Điện Ông Két (điện Năm Non Bảy Núi) thờ Tam Bảo với hình Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dưới cội bồ đề và các vị Sơn Thần (Chư vị Năm Non, Chư vị Bảy Núi). Hai dòng chữ màu vàng nổi bật ghi lời nói của Đức Huỳnh Giáo Chủ làm chúng tôi càng có ấn tượng sâu đậm về sự linh thiêng chốn này:

“Trên NĂM NON rồng phụng tốt tươi,
Miền BẢY NÚI mà sau báu quí.”

Chúng tôi đảnh lễ các Đấng Thiêng Liêng, các vị Thần linh. Anh Tứ say sưa với chiếc máy quay phim trong tay. Đến lượt mình sau khi hỏi ông gác núi, anh Tứ “thoắt” lên tượng một con hổ vằn trong tư thế điệu nghệ để chụp, chị Nga, cậu Lãm được hướng dẫn bấm máy nhưng thật là lạ khi kiểm tra lại trong máy không có một tấm hình nào của anh Tứ. Tôi nghe tiếng nhắc bên tai “Nguyễn Tứ đã không nên làm như vậy!” và nhắc lại lời này để anh Tứ biết và sám hối. Âu đây cũng là một bài học cho tất cả cần phải thận trọng trong từng lời nói hành động ở những nơi linh thiêng.

Tôi đắm ánh mắt vào tượng một con hổ “Minh Mẫn biết Năm Ông (Ông Hổ) chữa bệnh rất tài tình vậy xin Năm Ông để Minh Mẫn gọi Tiến lên đây, các Ông hỗ trợ Minh Mẫn chữa bệnh cho Tiến nhé.” Các vị Sơn Thần đã ủng hộ tôi. Tôi thầm cầu nguyện xin Cha Mẹ, các Đấng Thiêng Liêng, các vị thần linh giúp cho Tiến leo được lên chỗ này.

Tôi điện thoại cho mẹ Lành và nói mẹ cho Quang kè Tiến lên. Như có ai đưa chân Tiến, trong khoảng thời gian chưa đầy 15-20 phút Tiến và Quang đã có mặt. Tôi chữa bệnh cho Tiến trước và sau đó hỏi lại cảm giác của Tiến lúc được chữa bệnh. Tiến nói cảm giác lúc đó Tiến bồng bềnh như đi trên mây, toàn thân, lưng vẫn nóng dễ chịu như mấy hôm chữa trước và Tiến thấy một cái phễu không có đuôi như miệng núi lửa, màu mặt trời mọc bay trước mặt Tiến lúc thì xa xa ngoài chân trời lúc thì bay lại gần Minh Mẫn, nhưng lúc gần Minh Mẫn nó nhỏ hơn.

“À , mà mình quên nói với bạn tối hôm qua lúc bạn chữa bệnh cho mình, mình nhìn thấy Thái Thượng Lão Quân, chỉ thấy mặt và chòm râu dài, thời gian khoảng 1 đến 1,5 giây, ngay trên đầu, hơi xa bạn một chút, mình biết đấy là Thái Thượng vì mình đã nhìn thấy Ngài qua ảnh.” Tiến từ tốn nói với tôi nhưng tôi thấy trong ánh mắt của bạn niềm sung sướng khôn tả, nét mặt hồng hào, rạng rỡ của người bệnh vừa được tiếp nhận nguồn điển linh thiêng của Thày Mẹ ban cho .

Cảm ơn Thày đã cho đoàn chúng con chứng nghiệm huyền linh, Thày đã ban linh điển cho Tiến, một người đang sinh sống ở nước ngoài, chưa hiểu biết nhiều về tâm linh, thật là hồng phúc cho bạn ấy. Năm ngoái cũng tại ngôi chùa Phước Điền lúc mười giờ tối con cũng đã được Thày cho thấy Linh Ảnh của Thày. Theo Thày tu tập từ đó đến nay con đã đạt được một số tiến bộ nhất định.

Trong lúc tôi chữa bệnh, đoàn tiếp tục lên đỉnh gọi là “Sân Tiên.” Tất cả đều cho những người ở lại biết là cảnh trên đó rất đẹp. Tôi không tiếc vì không được ngắm Sân Tiên, cảnh tiên, ngược lại sung sướng vì tôi đã được quá lớn. Cái được, và điều đáng mừng “hết lớn” đó là những kinh nghiệm mà bạn tôi và anh Hưng được trải qua ở đây trong lúc chữa bệnh này và điều quan trọng mà Tiến đã quên không thông báo cho cả đoàn biết là tối hôm qua thấy Thày.

Xem lại cuộn phim về chuyến đi này mà anh Tứ đưa cho tôi và đã đặt cho nó một cái tựa đề “rất kêu” là “kỷ niệm chuyến đi núi An Giang mở mầu”, tôi “nhớ” lại trên “Sân Tiên”, nơi tôi đã không được “trèo” lên đấy ngắm cảnh. Bên tai tôi văng vẳng tiếng cháu Lãm đọc câu thơ của Cậu Hai Thanh Sĩ, một đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ trong cuộn phim đó:

“Có con chim đá nổi đá từ lâu;
Tới chừng có máu thấm vào nó vùng vẫy”

Biểu tượng mỏ con két bằng đá, con két màu xanh trên Sân Tiên, Con Két ấy muốn nói gì với ta? Thôi đúng rồi! Một con chim bị thương do trúng tên, nó vùng vẫy vì mình đẫm máu. Nó đã bị chiếc cung tên (nỏ thần) của An Dương Vương khi vô ý trao lầm tay giặc bắn trúng. Có thể Thày đã ngầm cho chúng tôi biết tại chốn này 6000 năm trước đây vua An Dương đã không thể bách chiến bách thắng quân thù vì để mất nỏ thần - mất sự anh minh của một vị vua? Con chim Két xinh đẹp trên “Sân Tiên” ấy có phải là con Phượng Hoàng (Anh Vũ, con chim anh dũng) của nước Việt Nam sau này hay không? Con “chim đá” này có liên quan gì đến “đá nổi từ lâu”?

Khoảng mười hai giờ trưa chúng tôi xuống núi, mẹ Lành đã chuẩn bị bồi dưỡng cho một số thành viên trong đoàn cháo tắc kè, gà… Ba mẹ con chúng tôi (mẹ Lành, Lãm và tôi) ngồi riêng một bàn với những món ăn thanh đạm thông lệ và đàm đạo về cuộc hành trình tiếp theo. Mẹ Lành bảo đi tiếp một điểm Thày chuyển là đá nổi rong chìm rồi tối nay về Sài Gòn. Nghe mẹ nói mà lòng tôi hụt hẫng: chẳng lẽ bỏ công sức đi xuống đây mới được một tí mà đã về sao, Thày bảo đi 3 ngày cơ mà, nhưng tôi không dám nói. Vừa lúc đó tự nhiên Lãm nói còn một điểm này nhất định bà Lành phải đi. Tôi nghe Thày nói: “Bảo nó nói ra đi.” Lãm bảo điện Tàu Cau (Trung Tòa) ở núi Dài. Chắc nó áy náy trong bụng là núi Ông Két không cao, chú Tiến và chú Hưng bệnh như vậy mà còn lên “thăm Ông Két” được. Tôi cảm nhận Thày đã sắp xếp cho chúng tôi ngủ lại đêm trên núi Dài.

Ba Lãm tiếp tục dẫn ông bà và các cô chú đi tới “gặp” Thần Kim Qui. Đây là một hòn đá sống, theo cô Ba năm nay 84 tuổi kể từ thời mẹ của cô đã có hòn đá này, nó tự lớn ra, nay là một quả núi con với hình giống con rùa, và đặc biệt thời gian sau này lại thêm một chú rùa con cạnh mẹ. Chúng tôi vào nhà thắp nhang đảnh lễ Phật và đi vào hang (dưới bụng Ông Rùa) tới bàn thờ lạy Mẹ Quan Âm. Tôi dựa lưng vào tường đá mát lạnh, nhắm mắt. Mẹ đã “đặt” vào trán tôi một bông mai năm cánh và nói với tôi: “Mẹ ban cho con bông mai này, để con chữa bệnh giúp người cho tốt.” Tôi vui mừng hết sức và cảm ơn Mẹ. Chúng tôi nghỉ chân dưới tán một cây nhãn và được cô Ba cho biết sở dĩ cây nhãn này có hình giống như một cây dù vì khi nó còn nhỏ cô khấn nguyện Ơn Trên độ cho nó có tán như cây dù để bá tánh đến đây ngồi nghỉ ngơi khi thăm viếng Ông Rùa.

Tôi cứ thắc mắc mãi tại sao Thày lại chuyển chúng tôi đến thăm Thần Kim Qui khi tôi đang hoàn thành bài viết này. À, hóa ra đây là Thần Kim Qui đã hiện lên để trao cho An Dương Vương cây nỏ thần để giữ nước năm xưa mà sau này khi sang núi Thủy tôi liên hệ được bài học về lịch sử. Thế còn tại sao hai con rùa một mẹ một con? Không sai. Sự tồn tại của hai thế hệ cha truyền con nối: Mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng dẫn con đi xuống biển chỉ có thể là Rùa Biển. Mẹ vẫn đang nâng đỡ con mình, biết đâu mai nay Rùa Con khôn lớn sẽ lại trao cho một An Dương Thái Tử cây nỏ thần để giữ nước, lịch sử sẽ lặp lại chăng?

Xe chúng tôi chuyển bánh tiếp về Ba Chúc, An Giang trên đoạn đường đầy những ổ voi khiến chúng tôi lắc lư trong xe, nhưng thiếu những điệu nhạc đệm phát ra từ máy hát. Đoàn chúng tôi đến thăm điện Diêu Trì Phật Mẫu. Cháu Lãm nói với tôi, chùa này Đức Phật Thầy Tây An đã ra lệnh cho xây. Đây là một ngôi chùa một tầng, hông chùa chạy dài theo đường tỉnh lộ, mà ngay đó, giữa đường lộ có cây gió bầu hàng trăm tuổi đang bị chết do lưu lượng xe đi qua hàng ngày gây chấn động, trên ngọn của nó những nhánh bồ đề đang xum xuê cành lá, phải chăng đó là dấu hiệu báo chờ ngày Đại Hội Long Hoa? Theo thiết kế mặt chính của chùa quay về hướng đông nam, thực tế cửa hông chùa mở cho khách hành hương vào thăm theo hướng nhìn ra lộ nơi có cây gió bầu - bồ đề (cột phướn?). Thày đã gật đầu, ngầm xác nhận câu hỏi của tôi phải chăng Mẹ đã cho lập điện thờ này để chuẩn bị cho Ngươn III - Long Hoa Tại Thế?

Chúng tôi thắp nhang bàn thờ Trăm Quan, lạy Mẹ rồi tiếp tục lên đường qua Thủy Đài Sơn (núi Nước) ở gần đó. Tại sao ở đây người ta thờ Trăm Quan? Thày giảng giải cho Minh Mẫn hiểu là mỗi họ như họ Trần, họ Nguyễn, họ Lê… đều có “Cụ Tổ”của mình, là những người tu đã đắc đạo được Bề Trên giao trách nhiệm dạy dỗ con cháu mình. Thày đã hướng họ, con cháu họ đến Long Hoa Hội? Thời kỳ mạt pháp có nhiều đạo giáo được hình thành và các Vị Thày Tổ xuất hiện như những minh sư để hướng đạo cho con cháu mình?

Núi Nước là hòn núi nhỏ nhất, nhỏ hơn tất cả những ngọn đồi và núi khác, gần như đất bằng, cao không quá 50 mét, ở gần núi Tượng. Hàng năm mùa nước lên, núi ở giữa, chung quanh là nước nên gọi là Núi Nước. Trên núi có một ngôi chùa gọi là Thủy Đài Sơn. Có những ngọn núi khá lớn như núi Trà Sư, núi Phú Cường, Nam Vi, núi Sam… lớn hơn núi Nước nhưng không có tên trong ngọn Thất Sơn. Theo người xưa thì Thủy Đài Sơn này có một cây “ếm”, chính Đức Bổn Sư đã mở cây “ếm” đó. Có lẽ sau khi mở cây “ếm” Đức Bổn Sư đã cho đắp một cái hồ con rùa tượng trưng khuôn viên chừng 3 mét x 3 mét mà bạn thấy đấy: ngay trên ngọn núi Nước này? Hồ con rùa tượng trưng ở Núi Thủy có liên quan gì đến Hồ Gươm ở Thủ đô ngàn năm văn hiến ngày nay?

Tiến ở lại phía ngoài uống thuốc, một số leo lên đỉnh núi xong trở về xe, chỉ có tôi, anh Tứ và bố Thuận xuống hang trong lòng núi. Tại đây chúng tôi được một cô “gác động” dẫn vào bên trong. Đó là một cái hang dưới núi, ở đây người ta thờ Địa Mẫu. Chúng tôi được kể cho nghe về “thiên cơ” là dưới lòng ngọn núi Thủy trước đây là biển ( có lẽ không sai vì theo một tài liệu của ông Trần Hữu Thành thì tất cả núi Việt Nam do dãy Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) chạy dài xuống phía nam, khi trồi lên, khi lặn xuống và chấm dứt ở miền đông bắc nam Việt Nam, để rồi tủa gần ra miền tây bắc nam Việt Nam thành các dãy núi ở Châu Đốc và Long Xuyên sau thời kỳ địa chấn lần thứ ba (thời tiền sử), thêm một điều nữa, các nhà địa lý học còn cho rằng “miền tây nam nước Việt trước kia là vịnh biển và hòn đảo, nay được bồi đắp và trở thành ruộng rẫy và núi non”, thật đúng như lời người xưa:

Thương hải biến vi tang điền
(Biển xanh biến thành ruộng dâu),

về sự tích bức tượng Địa Mẫu, hình ảnh Địa Mẫu được tự nhiên “tạc” vào trong đá, về những bí mật theo tương truyền về ngọn núi linh thiêng này với tảng đá sống ngày càng lớn ra như một con tàu, những dấu chân trên “núi” đá sống mà “trí tưởng tượng” cho là dấu chân An Dương Vương, chiếc búa (thay vì nỏ thần) An Dương Vương, hình ảnh Mỵ Châu, Trọng Thủy, những tảng đá có hình giống như bánh lái con tàu, hai chú voi đá của Hai Bà Trưng…

Tôi cảm nhận dưới ngọn núi là biển chạy dài đến mũi Cà Mau, khi xưa nơi đây là Thành Cổ Loa. Năm xưa Vua An Dương đã mất cảnh giác :

“Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu”
(Tố Hữu)

đã lái con tàu của đất nước chìm xuống biển sâu. Và chính nơi đây Hai Bà Trưng đã chiến đấu chống giặc phương Bắc, dấu ấn cặp voi để lại để sau này con cháu nhớ công ơn Hai Bà như một trang hào hùng trong lịch sử, dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Chia tay Thủy Đài Sơn, chúng tôi tiếp tục hướng về Ngọa Long Sơn (Núi Dài).

Ngọa Long Sơn cao 580 mét, dài 8000 mét, ngang 500 mét, xưa thuộc 4 thôn Châu Lăng, Lương Phi, Ba Chúc, Lê Trì, thuộc tổng Thành Ngãi, quận Tri Tôn. Người ta đặt tên như thế là vì núi này dài tới 8000 mét, trong sách gọi là Ngọa Long Sơn vì nó giống như hình con rồng đang nằm.

Xe chúng tôi men theo con đường trải nhựa bằng phẳng, rừng cây hai bên đường tạo cho chúng tôi cảm giác mát mẻ, yên tĩnh, thanh bình, thoải mái, dễ chịu dưới chân núi. Chúng tôi bị cuốn hút vào một vựa xoài dưới chân núi. Xoài ở đây không được ngon lắm nhưng gặp khách chủ vựa cũng bán được cho chúng tôi với giá 6000 đồng/kg.

Gửi xe lại, chúng tôi lấy đồ đạc cần thiết cho một đêm rồi Ba Lãm quẩy trái mít (tôi hảo mít lắm) tôi mới “tậu” làm “tiên phuông.” Phải nói “trèo” núi này có phần dễ hơn “Ông Két” vì các bậc đá tuy cũ kỹ nhưng triền dốc thoai thoải, tôi với anh Hưng, Hùng đi sau cùng vì anh Hưng lại bị mệt do lên cao.

Để hành lý tại Điện Tàu Cau (người ta gọi thế chắc vì đó chỉ là một khoảnh bằng phẳng được lát gạch bông độ 40 mét vuông được “khoét” vào trong núi, nếu ai để ý kỹ có thể liên tưởng đến chiếc tàu cau (lá cây cau ăn trầu) làm mái che mưa nắng cho khách hành hương), chúng tôi thắp những nén nhang dâng lên ngôi Tam Bảo, Trời Đất và lên mỏm cao hơn thắp nhang, ngồi thiền bắt ấn theo sự hướng dẫn của Thày (tôi nhớ lại cách bắt ấn Thày chỉ dạy khi ở Trại Ruộng và núi Ông Két khác với cách bắt ấn lúc này). Từ đây nhìn ra xung quanh một cảm giác khác so với khi ở bên “Ông Két”. Nhìn lên trời cao, tôi như đang thấy mình đứng lơ lửng giữa chín tầng mây, và một cảm giác khó tả tràn đầy: chúng con đang rất gần với Thày Mẹ.

Dòng chữ Tàu, vâng, có lẽ không phải là tiếng Phạn, lơ lửng trước mặt tôi càng làm cho tôi thấy một điều “thiên cơ bất khả lộ”. Phải chăng nền văn hoá Tây Tạng huyền bí được bắt nguồn từ nơi đây và con rồng Thăng Long đang ẩn mình dưới lòng đất Núi Dài chờ ngày đón Minh Vương Thánh Chúa? Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với núi sông hùng vĩ, từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, người ta không thể không nhắc đến Mẹ Âu Cơ dẫn con xuống biển gửi gắm những đứa con của mình cho Đại Dương bao la, những "chú Rồng con” đang được Biển Mẹ ôm ấp, nuôi dưỡng, (một ngày nào đó sẽ “thăng” theo dòng Cửu Long), đợi ngày “đoàn tụ” cùng trăm trứng của Lạc Long Quân - những “cô Phượng Hoàng” trên núi Gấm (mà ngày nay người ta đọc trại ra là núi Cấm (cấm người lên khi chưa được “phép”). Bản hùng ca mà Hà Nội sắp cất lên chào đón Thăng Long Hà Nội ngàn năm liệu có hòa chung điệu nhạc trầm bổng đón Rồng Vàng thức giấc? Phải chăng Trời Đất sẽ dành cho dân tộc Việt Nam, con Rồng cháu Tiên, dòng dõi Âu Cơ một thời điểm huy hoàng được chứng kiến Rồng Phượng song đôi? Tôi cảm nhận chúng tôi đang được Thày gợi mở đôi điều về truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân.

Khoảng 30 phút sau chúng tôi phải trở lại điện Tàu Cau vì sợ lát nữa khi ông mặt trời đi ngủ, trở xuống sẽ nguy hiểm. Tôi cùng Lãm vào Điện Mẫu thắp nhang xin Mẹ chỉ dạy về chuyến hành trình ngày mai. Mẹ bảo chúng tôi cần đi thêm một địa điểm nữa, (Lãm tìm trong ký ức và nói lên đó là đền Vĩnh Hanh. Vậy là trước khi đi rong chìm đá nổi chúng tôi sẽ ghé thăm đền Vĩnh Hanh) đồng thời chỉ dạy thêm rất nhiều điều cho các thành viên trong đoàn.

Tôi sợ quên nên nói to với Lãm và nhắc lại những điều Mẹ chỉ dạy để nó “nhớ phụ” tôi, đại ý mẹ Lành phải uống bài thuốc nghệ mật ong (có trong trang web “của quí Thày cho”), anh Hưng phải làm lễ cầu xin Trời Đất giúp cho khỏi bệnh tim và nên tập hít thở, tự chữa bệnh không cần dùng thuốc, còn Tiến thì chỉ được tôi chữa bệnh năm lần (đúng như Thày đã nói với Tiến ngay từ lúc đầu khi ở nhà mẹ Lành), phải bỏ uống thuốc tây, còn lại mọi thứ Mẹ sẽ lo…

Dòng chữ bí hiểm trên trần điện Tàu Cau

Vợ chồng anh chị Sảnh cai quản khu vực này cũng lên núi khi màn đêm buông xuống tiếp chuyện chúng tôi một lát rồi trở xuống. Mẹ Lành và tôi gửi chị một ít tiền nhờ mua bông trái cây để sớm mai cúng Mẹ vì mai là ngày 28 âm lịch, vía Mẫu. Tôi chợt nhớ tới câu nói trong dân gian:

“Mùng năm, mười tám, hai ba
Là ngày vía Mẹ, vía Cha đi mừng.”

Chị Sảnh bảo với chúng tôi, nếu muốn mua bông thì phải đi chợ rất xa, ở đây chỉ cần hái bông rừng cúng Mẹ. Tôi tưởng tượng chúng tôi sẽ hái được những nhành phong lan, những cành hoa màu tím biếc mà tôi vừa thấy ở trên bàn thờ thiên để dâng lên Mẹ.

Bữa tối hôm đó chúng tôi tự nấu cơm (gạo có sẵn trong bếp) ăn với muối mè chị Nga mang theo và “làm thịt” quả mít để tráng miệng. Đã hai ngày nay khi đi xa sợ không có toilet chúng tôi (nhất là phụ nữ) không không dám uống nước nhiều. Quái ác thay, lúc này trời tối quá, tôi lại mắc đại tiện nhưng ở đây không có toilet, anh Tứ “xung phong” dẫn tôi đi tìm chỗ. Hai chiếc màn to được giăng lên chứa hết tám người. Anh Tứ nằn nì tôi chữa cho anh cái khối u sau gáy và tả cảm giác khi được chữa bệnh năng lượng xuống 2 cánh tay và “buồn buồn” ở vùng khối u. Chúng tôi chìm vào giấc ngủ trong những tiếng kêu rả rích của côn trùng…

Buổi sáng trên núi thật sảng khoái, vài người trong chúng tôi lại trèo lên mỏm đá cao hướng về Đấng Sáng Tạo để thu năng lượng. Tôi nghĩ tới người mẹ già đang nằm trong bệnh viện và cầu nguyện Ơn Trên gia hộ. Những giọt nước mắt thương cảm mẹ già lăn trên đôi má, tôi nghe Thày nhắc con ngửa mặt lên trời. Tôi vâng lời Thày ngửa mặt lên trời: bầu trời cao xanh thẳm, một khoảng không bao la xâm chiếm tâm hồn tôi, tôi hiểu: lời nguyện cầu của con Chúa đã nghe…

Một làn gió mát, rồi mát lạnh kéo đến, tiếp theo là những đám mây đen chuyển thật nhanh. Mưa! Chúng tôi nhanh chân trở về Điện, bố Thuận đã chuẩn bị cho chúng tôi mỗi người một tô mì chay. Mưa to quá! Mưa phủ trắng cả một vùng núi, mưa hắt ướt hết khoảng gạch nơi chúng tôi ngồi, một vài dòng nước mưa luồn theo mạch đá núi nhỉu tong tong vào nơi chỗ tôi, mẹ Lành, anh Tứ và anh Hưng đang ngồi. Tôi nói với mẹ Lành: ngày hôm qua mình đi trời đẹp, nắng nhẹ, không mưa, Trời Phật thương và gia hộ cho chúng ta chứ nếu tối hôm qua Thày Mẹ cho mưa lớn như thế này thì khỏi ngủ. Mẹ Lành tỏ ra sốt ruột vì mưa lớn chị Sảnh sẽ không đi chợ và lên đây kịp.

Thấy Tiến đứng dưới bếp nhìn ra ngoài trời mưa, tôi chạy xuống và bảo Tiến rót một ly nước chín vào Điện Mẫu thắp nhang cầu xin Mẹ ban nhiệm mầu vào nước uống cho hết bệnh. Tiến đã làm theo tất cả những điều tôi “ xúi giục.” Anh Tứ và anh Hưng cũng vào thắp nhang lạy Địa Mẫu và được Mẹ chỉ dạy nhiều điều trong bước đường tu tập (thông qua tôi làm phiên dịch, trừ những điều Mẹ cho họ tự cảm nhận).

Khoảng tám giờ mưa đã tạnh hẳn. Một con sáo đen bay đến trước mẹ Lành kêu lên ba tiếng. Chúng tôi hiểu đã đến giờ tạm biệt các vị Sơn Thần ở đây.

Mẹ ơi, thế là đã đến giờ Mẹ giục bước chúng con lên đường. Chúng con đã không kịp đặt dưới chân Mẹ bó hoa rừng màu tím, nhưng một ngày nào đó tất cả chúng con sẽ dâng lên Mẹ những bông sen đỏ rực màu máu, là những trái tim của chúng con khi thành tựu - những búp sen quay ngược lên phía trên trong lồng ngực của chúng con, chắc hẳn lúc đó Mẹ sẽ rất vui.

Trên đường xuống núi chúng tôi gặp cô chủ nhà đang hối hả lên núi cùng với con chó cưng của mình. Chúng tôi cảm ơn và chào tạm biệt cô. Sau cơn mưa lẽ ra phải cảm thấy mát mẻ nhưng chúng tôi ai cũng thấy nóng phừng phừng trong người, có lẽ cơ thể đã xả bớt năng lượng tích trữ.

Xe phải dừng lại bên kia dòng kênh. Chúng tôi phải qua một cây cầu sắt nhỏ. Nói đến đền (đình) thường người ta liên tưởng đình thờ thần, nhưng không, chúng tôi được chứng kiến đây là ngôi đình thờ Tam Bảo (thờ Phật, một cách nói nôm na), đình Vĩnh Hanh thuộc xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang .

Chúng tôi dâng nhang lên bàn thờ Bác Hồ, bàn thờ Trăm Quan, bàn thờ Nguyễn Trung Trực và cuối cùng Ngôi Tam Bảo. Người quản lý ở đây chỉ cho chúng tôi tấm trần điều (vải điều) không hình chữ lọng trong kính ở tít trên cao và bảo mọi người nhìn vào đấy. Phần đông, theo trí tưởng tượng của mình đều thấy Mẹ Quan Âm, còn tôi thì thấy hình Đức Di Lặc. Riêng Tiến thì thấy hình Thái Thượng Lão Quân với bộ râu dài.

Rõ ràng là trong tâm khảm ta nếu khắc ghi hình ảnh của Đấng Thiêng Liêng nào thì “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Tôi nghe tiếng Thày chỉ dạy cho tôi: “Tất cả đều là Thày đó con”. Vâng thưa Thày, con đã hiểu “một là tất cả, tất cả là một”, nhưng hôm nay muốn viết ra cho các bạn cùng hiểu TẤT CẢ đều là CHA biến hóa ra để hóa độ chúng sinh.

Tôi lại nghe tiếng Diêu Trì Kim Mẫu nói :“Các con lại đây, quì dưới bàn thờ Tam Bảo.” Tôi hướng dẫn các thành viên trong đoàn làm theo, quì xuống chân Thày Mẹ, ngửa tay lên trời, trong khoảng 5 phút. Tôi nghe năng lượng trong người chạy rần rần. Mẹ bảo Mẹ đã ban năng lượng, và xả trược cho chúng tôi. Chúng con xin cảm ơn Mẹ.

Tôi lầm bầm điện thờ Mẫu người ta thờ Trăm Quan, đền Vĩnh Hanh thờ Bác Hồ, thờ Trăm Họ, không biết có mối liên quan gì đây? Bác vẫn bảo: “ Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải gắng sức giữ nước”. Bác đã hy sinh đã cả cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Các thế hệ ngày nay đang tiếp bước trên con đường mà Bác đã vạch ra vì Bác là Vị Thánh Anh Minh, là Vua Hùng tái thế. Bác vẫn là niềm tin, niềm tự hào của dân tộc:

Tháp Mười đẹp nhất hoa sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

Tôi chợt nhận ra rằng: Đảng và Nhà nước đã chính thức lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày giỗ Tổ Hùng Vương, đó là một biểu hiện của sự “uống nước nhớ nguồn” của cháu con. Đền thờ trăm họ mọc lên như nấm khắp nơi khiến cho con người ta cảm thấy được gần gũi với tổ tiên ông bà mình hơn. Phải rồi, bài học Thày cho nhớ về Cội nguồn là nhớ về Bác Hồ, các Vua Hùng với Trăm Quan, Trăm Họ; Mẹ Âu Cơ - Cha Lạc Long Quân với "một trăm bọc, một trăm trứng", người xuống biển, người lên núi tuy xa cách về địa lý nhưng tất cả đều là anh em một nhà như thế đó!
Bố Thuần, chị Nga, Tiến và tôi chụp một bức ảnh lưu niệm dưới chân Bác và tạm xa ngôi đình, đi tìm chỗ ăn cơm trưa. Tất cả kéo nhau về thị xã Long Xuyên, tiệm cơm Phát Tài. Anh Hưng hứa chiêu đãi đoàn, nên họ gọi nào là mực xào, nào là… tôi không biết những món gì nữa, chỉ biết họ đã ăn hết chắc vì đói ngấu.

Khoảng một giờ trưa chúng tôi lên đường tới điểm cuối cùng: Dinh Đá Nổi, Rong Chìm ở ấp Phú Tây, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Hai chiếc xe lăn bánh dọc theo dòng kênh Xua Đũa… Chúng tôi qua hai cây cầu và đến đoạn đường đầy sình lầy xe không qua nổi, buộc phải đỗ xe lại và tìm cách tiếp tục cuộc hành trình. Tôi bảo cháu Lãm đi xe ôm (ở đây họ gọi là xe đò) lên trên đó kêu mười chiếc xe ôm lên đây đón đoàn. Chờ mãi… chẳng có một chiếc xe ôm nào. “Vậy thì con đi tìm chiếc ghe bảo họ chở cả đoàn đi” vì trong khi ngồi trong xe tôi thấy những chiếc ghe đi lại trên dòng kênh nên thơ quá, và cứ thầm ước có thuyền rồng đưa chân đoàn đi. Cháu Lãm cũng không biết đi bằng ghe sẽ như thế nào. Một lát, như có sự sắp đặt sẵn của Bề Trên, chủ nhân một chiếc thuyền neo bên kia dòng kênh đã đồng ý chở chúng tôi đi mà không hề đòi hỏi, họ bảo ghe chúng tôi chỉ chở mía, nay giúp các bác, chúng tôi sẽ cho chở các bác đến đó và chở về.

Trừ Hiểu và hai người lái xe ở lại, chúng tôi xuống cỗ thuyền rồng rộng thênh thang, lướt sóng trên dòng kênh. Con thuyền đưa chân chúng tôi đến tận nơi (khác với những lần trước nếu Lãm dẫn đòan đi phải đi xe ôm, rồi đi bộ khoảng 100-200 mét mới tới nơi. Cũng là thêm một kinh nghiệm cho cậu ấy tìm con đường thuận lợi nhất cho khách hành hương).

Người trông coi ngôi dinh này giới thiệu với chúng tôi sự tích văn hóa của một thời được gọi là của dân tộc Óc Eo - tâm điểm của Vương quốc Phù Nam, dưới lòng đất là cả một sự huyền bí bắt nguồn từ Cam Ranh tới Hà Tiên (nhà nước đã hai lần khai quật di tích này vào năm 1982-1983 và 1993 và tính đến tháng 2/2005 đã phát hiện hơn 400 cổ vật, hàng vạn di vật ở sâu dưới lòng đất), ghi nhận dấu vết của đạo Bà La Môn còn để lại, những điều không thể giải thích được tại sao những hòn đá nặng như thế lại nổi lên trên mặt nước vào mùa nước nổi, mà rong dưới nước lại chìm, về sự tích chiếc ghế của vua trạm trổ rồng, mà theo họ đã có hai người do vô ý ngồi lên sau đó bị đau bệnh mà chết, về cặp rồng bằng gỗ chạm trổ rất tinh xảo được tìm thấy dưới đất khi khai quật vùng này. Anh Trình nói với chúng tôi, hiện nay theo sự hướng dẫn của Đấng Vô Hình người ta đang phục hồi bốn con rồng và bốn con qui thời kỳ An Dương Vương…Tôi cảm nhận những báu vật đó là di tích do Tổ Hùng Vương để lại.

Theo kết luận của tập san “Cổ vật tinh hoa” trong bài viết “Tiền cổ và sự liên quan giữa văn hóa Óc Eo với vùng Địa Trung Hải” thì nền văn minh Óc Eo còn bao gồm cả 12 tỉnh là An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh, Tiền Giang, Long An, Đồng Nai, Tây Ninh, Sài Gòn-Gia Định. Văn hóa Óc Eo đã từng tồn tại trong nhiều thế kỷ, từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ VII, VIII sau công nguyên, được nhìn nhận là có một nền thương nghiệp phát triển rực rỡ và có mối giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài. Cùng với khối lượng lớn sản phẩm ngoại nhập khác, những đồng tiền kim lọai và những hiện vật La Mã thuộc văn hóa Óc Eo phát hiện được ở đồng bằng sông Cửu Long, và ngược lại những sản phẩm giống với Óc Eo cũng được tìm thấy ở nhiều nơi xa đến tận Ba Tư và thế giới Địa Trung Hải là những bằng chứng vật chất cụ thể cho cách nhìn nhận đó.

Khi các bạn đọc những dòng này, nếu có hảo tâm có thể đóng góp cho nhà chùa xây dựng lại một địa danh mang tính chất lịch sử vừa có ý nghĩa về mặt vô vi.

Chúng tôi làm lễ đối với các Đấng Thiêng Liêng và hỏi Thày: “Thưa Thày Mẹ, Thày Mẹ chuyển chúng con đến nơi này, Thày Mẹ có cho chúng con biết thêm gì về nơi này?” Mẹ bảo tôi: “Rừng thiêng, nước độc.” Tôi tự luận chắc ở đây nguồn nước sẽ quí giá và có thể uống được. Thổ dân ở đây cho tôi biết ở đây có nước giếng, vậy là chắc giống giếng nước ở khu vườn kỳ lạ Long An, tôi chợt nghĩ và bước ra ngoài sau đề nghị xin họ một ít nước. Thày hướng dẫn tôi niệm thần chú vào lu nước, sau đó mỗi người uống một ít (chỉ trừ Tiến trong suốt cuộc hành trình chỉ ăn cơm không và không uống nước vì sợ đường tiêu hóa có vấn đề). Anh Tứ đã xin về một chai nước và sau này khi về thành phố Tiến đã uống nó không cần đun sôi.

Sau đó Mẹ hướng dẫn tôi ra một cái hồ (ao) sen hồng và nói với tôi rằng dưới đây là kho báu. Chắc là Mẹ muốn chỉ dạy cho tôi về nghĩa bóng của kho báu dưới hồ sen. Tôi sực nhớ ra năm câu thơ mà Thày đã ban tặng cho tôi vào đêm Noel, mừng Chúa Giáng Sinh vào ngày rằm tháng 12 năm ngoái:

“Sinh giáng ao vàng mới đáng TA.
Ao vàng một lối có ai về mau kẻo trễ đò,
Ao vàng vẫn nở một màu đa,
Ao vàng chen chúc người Minh Mẫn,
Gom thần ao mới hóa SEN VÀNG”

Tôi bảo cháu Lãm hái cho tôi một bông sen để lát nữa tôi dâng lên Ngôi Tam Bảo. Hai cô cháu đi tới mô đá nơi người ta xếp thành đống (một cách nghệ thuật) những tảng đá nổi. Mẹ bảo tôi xin lấy một cục và đã chọn cho tôi. Tôi để cục đá lên bàn khách và tiến tới điện Phật.

Con đã thầm ước dâng đóa sen trắng lên Đức Phật Thầy Tây An, giờ đây con kính cẩn dâng bông sen hồng mà cháu Lãm đã trình bày thật đẹp và quán tưởng chúng bất tận như nước trong nguồn, nhiều hơn núi Tu Di lên Đức Phật. Đây là tấm lòng của chúng con xin Trời Phật chứng giám.

Tôi ngỏ ý xin cục đá với anh Văn Công Trình - quản từ, anh Trình bảo: “Để tôi hỏi Thổ Địa đã.” Phút sau anh bảo, “Mẹ đã cho, chị cứ lấy tất cả đều phụng sự cho nhân loại, từ trước tới nay tôi chưa cho ai đá này đâu, mà chị có biết không cục đá chị cầm trong tay là rong hóa đá đó.”

Cục đá tôi đang cầm trong tay chỉ có thể là “xác con chim hoá đá” làm “rong chìm”, “chim đá nổi” chỉ có thể là con két (bạn còn nhớ chứ “chim đá đá nổi”?), và… chim bay lên hoá mào từ “rong biển” xanh tươi. Nếu bạn là người có đầu óc hay suy luận, bạn cũng có thể dùng thuật lái chữ để “mơ” “rong chìm” là Chim Rồng (Phượng Hoàng) cao quí ?

Mẹ Lành, tôi và các thành viên khác của đoàn cúng dường một ít tiền ghi vào sổ hoặc bỏ vào thùng công đức (vì nơi đây họ đang xây dựng rất cần những tấm lòng hảo tâm của chúng ta). Đoàn chúng tôi chụp ảnh lưu niệm trước mô “núi” “đá nổi”.

Thày Mẹ đã mở đầu cho chúng tôi thấy hồ sen trắng ở điểm dừng đầu tiên và đã kết thúc chuyến đi đầy thú vị của chúng tôi tại một nơi có hồ sen hồng – kho báu.

Trong lúc tôi đang hoàn tất bài viết này, Thày hỏi tôi liên hệ xem Thày muốn dạy gì cho chúng ta về sen trắng, sen hồng và sen vàng.

Thưa Thày! Con nghĩ sen trắng, sen hồng đều là sen, là sự tượng trưng cho tâm hồn cao đẹp, hay nói một cách khác tâm thanh tịnh của con người mà chúng con, tâm phân biệt còn thấy chúng qua màu sắc. Chúng con “vẫn nở một màu da”: Vâng, nhiều màu da, nhiều quốc gia lãnh thổ, nhiều sắc tộc, nhiều căn cơ nhưng những dòng máu đỏ ấy đã được Thày cho “sinh giáng” trong “ao vàng.” Chủ nhân của những bông sen đã và đang được Thày chỉ cho một con đường về với Thày - Tây Phương Cực Lạc, với Hội Long Hoa “ao vàng một lối có ai về mau kẻo trễ đò”. Chỉ có tu tập trong minh tâm kiến tánh chúng con mới “thấy” được “SEN VÀNG.”

Dọc đường về, Tiến cho chúng tôi hay thêm: ngay đêm ở Điện Tàu Cau khi ngồi thiền, trong mắt thấy rất nhiều pháo hoa (pháo bông), một dấu hiệu của sự chúc mừng…, tôi nghĩ thế. Sức khỏe của Tiến đã tốt lên nhiều: mười phần bớt sáu bảy.

Xe chúng tôi đặt bánh vào địa phận thành phố Hồ Chí Minh lúc mười giờ đêm ngày 3/5/2008.

Trong chuyến đi này chắc hẳn mỗi người đều có cảm nhận của riêng mình, người gặt hái được nhiều, người được ít, nhưng rồi tất cả cũng sẽ phải cố gắng phấn đấu để tu sửa hoàn thiện chính mình. Người có hồng phúc được Thày cho thấy Linh Ảnh sẽ rất vui mừng, củng cố thêm niềm tin vào Đạo, người chưa có nhân duyên cũng đừng vội buồn nản vì Đức Phật dạy:

“Tu mà tự tánh bất minh,
Tầm sư, học đạo, khó thành ước mong.”

Tất cả còn đang ở phía trước. Chúc tất cả các bạn thành công!

Thưa THÀY! Qua chuyến đi này, con thấm nhuần bài học THÀY cho con là BÀI HỌC LỊCH SỬ, bài học về tình yêu thương đoàn kết tương ái tương thân, biết sẻ chia biết hy sinh quyền lợi của mình vì lợi ích của người khác, bài học về tính vị tha, bài học đi người hành hương, bài học về Long Hoa Hội và trên hết, xuyên suốt cả chuyến đi này là bài học về NIỀM TIN vào ĐẤNG CAO CẢ đang dìu dắt đàn con dại trên bước đường trở về với Ngài. Chúng con xin quì dưới chân CHA MẸ, cảm ơn THÀY MẸ đã gia hộ cho chúng con, mở cho chúng con con mắt tâm để chúng con có tâm minh, trí sáng, để chúng con tu tập tiến bộ và cùng cộng đồng tiến hóa, thăng hoa mãi mãi, để ánh sáng minh triết của ĐẤNG VÔ CỰC dẫn dắt chúng con mau trở về với CỘI NGUỒN.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 5 năm 2008
(Tức mùng 6 tháng 4 năm Mậu Tý)