Sunday, August 17, 2008

# Ươm Mơ Sen Vàng (Phần 4)

ƯƠM MƠ SEN VÀNG

Phần 4: MÌNH ẢO

(KẺ THÙ CỦA TA LÀ AI?)

Người trình bày: Thái Minh Mẫn

“Anh tên gì hỡi anh yêu quí? Anh vẫn đứng lặng yên như bức thành đồng, như đôi dép dưới chân anh dẫm lên bao xác thù mà vẫn một màu bình dị sáng trong…Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất, dáng đứng tự hào, dáng đứng Việt Nam”. Lời một bài hát ca ngợi người anh hùng liệt sĩ Lê Anh Xuân đang là nguồn cảm hứng cho Minh Mẫn “mơ” (viết ) tiếp giấc mơ sen vàng, hình dung về những hình ảnh anh dũng, ngoan cường của người chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ tự do, độc lập cho Tổ Quốc, liên hệ tới bản thân trong cuộc chiến với cái tôi để chiến thắng chính mình.

Bạn hãy tưởng tượng rằng mình đang đứng giữa một trận địa, một mình đơn độc chiến đấu với hàng vạn quân địch. Mặc dù bạn bị bao vây tứ phía nhưng cuối cùng bạn vẫn chiến thắng. Rồi tưởng tượng bạn bách chiến bách thắng mỗi lần lâm trận. Đức Phật dạy rằng thắng vạn quân ngàn lần như vậy còn dễ hơn một lần chiến thắng chính mình.

Công việc của chúng ta khởi sự làm ở đây không phải là nhỏ. Hiểu được tâm của mình là điều khó khăn nhất trên đời này, nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta không làm được. Đơn giản một điều Đức Phật là người đi trước chúng ta đã phải đương đầu với hàng vạn quân địch này và đã chiến thắng chúng, để lại cho chúng một số lời khuyên và những lời hướng dẫn vô cùng hữu ích.

Điều trước hết muốn chiến thắng kẻ thù chúng ta phải tìm hiểu chúng, biết chúng là ai. Nếu không thấy được chúng, chúng sẽ trở nên những quyền lực chi phối đáng kể trong ta. Nhận diện được chúng ta sẽ có thể đối diện với chúng một cách dễ dàng hơn. Trong trận địa tâm ý này ta phải đối phó với năm kẻ thù có nhiều thế lực và học cách nhận diện chúng là điều thiết yếu đầu tiên, tiến tới đi sâu vào hiểu biết về chúng.

Đức Phật gọi năm kẻ thù ấy là Ngũ Trần Cái, tức là năm điều che bít, ngăn chặn không cho trí tuệ phát sinh. Đó chính là tham dục, sân hận, thụy miên, trạo hối và nghi hoặc.

Bạn còn nhớ tâm hành của 80 tâm sở mà Thầy đã chỉ dạy cho chúng ta? Dế Mèn ra đời là tâm thức đầu tiên xuất hiện. Vì Vô Minh làm điều kiện cho nghiệp lực do Dế Mèn tạo tác trong kiếp trước, (mà giáo lý nhà Phật gọi là Thức Tái Sanh), được hình thành hay khởi lên ngay khi Dế Mèn “tưởng” cái sung sướng, hạnh phúc của người khác (cha mẹ) là của mình. Tâm Hành là nhân mà Thức Tái Sanh là quả. Sự Vô Minh sinh ra Tâm Hành tạo nên nhiều nghiệp lực. Những nghiệp lực ấy làm phát sinh ra Thức Tái Sanh, điều kiện bắt đầu cho cuộc sống này của Dế Mèn. Và cũng vì có tâm thức đầu tiên ấy mà cả hiện tượng Danh, Sắc này mà Lục Nhập (những quan năng của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý được phát triển ngay khi Dế Mèn còn trong bụng mẹ mà bạn đã biết) phát sinh.

Rồi Lục Nhập lại làm điều kiện cho Xúc (sự tiếp nhận của những giác quan – Căn) khi tiếp xúc với những đối tượng của chúng (Trần) như là mắt với màu sắc, tai với tiếng động, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân với cảm giác, ý thức với lại tư tưởng. Chính sự tiếp xúc của Căn với Trần khác mà Thọ (cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung hòa xảy ra trong từng sát na của tâm) sanh lên.

Bởi vì có Thọ nên mới có Ái (lòng tham dục ham muốn, khao khát một vật gì). Dế Mèn nhớ lại khi còn là một cục thịt đỏ hỏn lọt lòng mẹ cũng đã sanh lắm tật rồi: nào là đái ướt, đau bụng, đói, lạnh và những cảm giác khó chịu khác đều dùng tiếng khóc của mình để “dọa” ba mẹ nè; chập chững biết đi thì đòi đồ chơi nè, hay nhõng nhẽo đòi bà vú già bế suốt ngày rong chơi với những bụm cơm trong miệng không chịu nuốt; đi nhà trẻ, mẫu giáo thì ỉa đùn có những khi ba chở về nhà mà “truổng cời” ngồi sau xe đạp; lớn lên tí nữa thì đòi ba mẹ mua quần áo đẹp; thậm chí đến khi tốt nghiệp đại học là một cô gái rồi vẫn còn làm khổ ba mẹ vì đòi lấy chồng xa…Tóm lại là một “con” Dế Mèn chưa ngoan, chưa tròn chữ hiếu, tiếp tục tạo tác nghiệp trong cuộc sống này.

Trong những giây phút ân hận muộn màng như thế này, Minh Mẫn chợt nhận ra rằng trong cuộc đời này chúng đang muốn gì? Chúng ta muốn những hình ảnh, âm thanh dễ chịu, những mùi vị thơm ngon, những cảm giác, tư tưởng tươi mát, nhẹ nhàng. Chúng ta muốn vứt bỏ mọi điều làm cho ta khó chịu. Chúng ta bắt đầu khao khát hoặc trốn tránh những đối tượng của Lục Nhập.

Bởi chúng ta có tham dục nơi đối tượng của sáu giác quan kể cả ý thức nên ta muốn chiếm giữ, nắm bắt, ta nhận chúng là mình, gắn bó với chúng: ta luôn cho rằng vợ (chồng) con, tiền bạc, nhà cửa, sự nghiệp và cả cái thân tứ đại này nữa là của ta. Vì động cơ muốn nắm giữ (Thủ) đó ta bắt đầu tạo nghiệp, gây quả, tiếp tục tạo nhân cho sự luân hồi sinh tử của chính ta.

Vậy thì kẻ thù của chúng là là ai?

Kẻ thù thứ nhất là tham dục tức là sự đam mê ham muốn vào những cảm xúc nơi thân thể và các đối tượng của chúng. Lòng tham dục khiến tâm ta lúc nào cũng hướng ngoại, náo động, mất quân bình, hết đeo đuổi chuyện này sang chuyện khác như một con khỉ hiếu động tay chân táy máy liên hồi hoặc như một con sóc chuyền hết cành cây này sang cành cây khác. Bản tính của lòng tham dục là không có gì có thể làm thỏa mãn nó được. Sự tìm kiếm sẽ là bất tận và vô vọng. Chúng ta đang vui hưởng một điều gì đó, rồi nó cũng sẽ sanh và diệt như mọi hiện tượng khác, khi ấy ta trở nên bất mãn và lại đòi hỏi đi tìm thêm những thú vui mới. Chỉ đến khi nào ta chịu chấp nhận đối diện với lòng tham dục, bằng không lúc nào ta cũng cảm thấy thiếu thốn muốn đi tìm một niềm vui mới, một sự khuây khỏa nào đó. Lòng tham dục có nhiều hình thái khác nhau, nó có thể là một hình ảnh đẹp, một âm thanh du dương, những mùi vị ưa thích, một cảm giác êm dịu hay là những ý tưởng say mê. Dính mắc vào những đối tượng này sẽ làm củng cố thêm lòng tham của mình.

Chúng ta không thể phủ nhận trong đời này chúng ta luôn chìm trong tham đắm của dục lạc. Một người đàn ông đến tuổi lập gia đình ao ước tìm cho mình được một cô vợ xinh đẹp, hiền lành đảm đang, nhưng khi có rồi anh ta lại sao nhãng sáng đưa chiều đón người bạn mình như khi còn đang yêu say đắm, để mải mê bù khú với bạn nhậu hoặc mê mải trong quán bia ôm hoặc say mê vụng trộm với người tình. Người khác thì lại bảo tôi không có máu dê chỉ ham kiếm tiền làm giàu thôi. Anh ta lao vào những phi vụ làm ăn đến bạc cả mặt, đau bệnh cũng không dám nghỉ lấy một ngày đi khám chữa bệnh. Đại bộ phận chúng ta ưa ngon miệng nên phải sát sinh nuôi dưỡng “cái vị mặn” mà ta thường bao biện không thể ăn chay được v.v.. Kể sao hết được những chứng bệnh tham của chúng ta.

Chính vì lòng tham, tâm dính mắc níu kéo này mà ta đã tự trói mình vào bánh xe luân hồi sanh tử từ thưở nào đến giờ. Cho đến khi nào ta chiến thắng được lòng tham dục, ta mới có thể giải thoát ra khỏi được sự trói buộc của tâm dính mắc và lòng sở hữu của mình.

Kẻ thù thứ hai là tâm sân hận. Những tâm giận dữ, thù ghét, bực tức, khó chịu đều có chung một đặc tính là xua đuổi, tiêu diệt đối tượng của nó. Nó có một trạng thái rất hỗn loạn và bạo động. trong văn chương người ta thường diễn tả những người đang bị chi phối bởi lòng tham dục và sân hận là những người đang bị lửa nóng thiêu đốt. Khi ta đang có một sự đam mê hay nóng giận nào người ta nóng bừng bừng. Lửa tình hay lửa sân hận đều làm ta có cảm giác như thế, ta bị giày vò đau khổ. Người ta có câu “lửa sân hận có thể đốt cháy cả rừng công đức” ý muốn nói sức phá hủy thân tâm ta rất lớn. Nóng giận có thể làm cho con người mất khôn. Có nhiều trường hợp trong cuộc sống hàng ngày như chúng ta biết chỉ có cãi nhau qua lại rồi không kìm chế được nóng giận án mạng đáng tiếc xảy ra. Con cái học bị điểm kém ta chửi mắng chúng cho hả giận, bớt bực tức vì ta đã uổng công chăm lo cho chúng. Vợ chồng mất hạnh phúc vì không hiểu và không chịu nhường nhịn nhau v.v..

Kẻ thù thứ ba là thụy miên. Thụy miên có nghĩa là tâm làm biếng, uể oải, ham ngủ nghỉ. Dế Mèn thú thật với bạn nhé, khi còn nhỏ lười nhác lắm không chịu thức khuya học hết bài (mặc dù nhiều năm Dế mèn cũng được là học sinh tiến tiến nhưng thêm hai chữ suất sắc thì chỉ có đợi… kiếp sau. À mà quên Dế Mèn ứ chịu luân hồi nữa đâu), sáng dậy nằm ườn trên giường nhất là những ngày đông giá buốt không chịu dậy, mẹ phải giục năm lần bảy lượt dọa trễ học mới tuột xuống đất còn tiếc rẻ giấc ngủ. Giờ đây thì thực tập thiền định giãi đãi không tinh tấn, buông giò xuống khi tê chân sợ cặp giò của mình đau đớn, thèm ngủ hơn lao động, suy nghĩ. Dế Mèn có tệ quá lắm không bạn?

Minh Mẫn tự nhủ chúng ta phải chiến thắng được tâm uể oải và lười biếng này mới mong thành công được, chứ bằng không thì sẽ chẳng có việc gì làm xong, chẳng có chuyện gì là rõ ràng cả, tâm ta lúc nào cũng cảm thấy mờ mịt và nặng nề.

Tâm chướng ngại thứ tư là trạo hối. Trạo hối có nghĩa là là tâm xao động, buồn rầu, lo nghĩ, hối hận. Một tâm như vậy thì không thể nào có khả năng tập trung được. Nó luôn nhảy từ đối tượng này sang một đối tượng khác, lao chao, không có chút gì là chánh niệm cả. Tâm trạo hối ngăn chặn sự phát triển của trí huệ.

Trong cuộc đời chắc chắn một điều chúng ta luôn lo nghĩ, buồn rầu rất nhiều: lo không tiền bạc, nghề nghiệp không ổn định, con cái không ngoan, cha mẹ già yếu, bệnh nan y v.v..và cố gắng xoay xở để mọi việc được theo như ý mình, nhiều lúc ta bối rối không biết nên làm gì rồi đứng ngồi, ăn ngủ không yên đến lúc cơ thể suy nhược mệt mỏi, sanh ra đủ thứ bệnh thì tự giải thích là mình bị stress.

Kẻ thù thứ năm là tâm nghi hoặc. Lòng nghi ngờ vào giáo pháp, vào con đường mình theo. Có lẽ tâm nghi hoặc là một kẻ thù đáng sợ hơn cả. Trừ khi ta nhận diện nó, tâm nghi hoặc có thể làm cho trí óc mình trở nên vô dụng, ngăn chặn không cho ta nhìn sự việc một cách rõ ràng. Ta nghi ngờ về chuyện ta đang làm, về khả năng của chính mình. Nhưng khi bạn đến một nơi lạ, bước vào một môi trường mới chắc thế nào bạn cũng có những ý nghĩ “Tôi làm gì ở nơi này? Tại sao tôi tới đây? Liệu tôi có phù hợp với công việc hay môi trường này không???”

Năm điều ngăn chặn hay Ngũ trần Cái – tham dục, sân hận, thụy miên trạo hối và nghi hoặc đều là những tâm hành. Chúng không có Ngã, không có một bản chất thật sự, chỉ là một chuỗi nhân duyên hiện hành vô chủ. Xin lấy một ví dụ để diễn tả ảnh hưởng của những chướng ngại này đối với tâm chúng ta. Lòng tham dục được ví như những màu sắc sặc sỡ được pha vào nước. Nhìn xuống hồ, chúng ta bị lôi cuốn theo những vẻ đẹp và sự phức tạp của màu sắc sặc sỡ được pha vào nước mà không còn thấy được đáy. Tâm sân hận, khó chịu, thù ghét được ví như nước sôi. Nước đang sôi sùng sục bao giờ cũng rất xao động, chúng ta không thể nhìn thấu xuyên qua được. Sự náo động của tâm gây ra bởi phản ứng bạo động của lòng thù ghét, ác cảm là một trở ngại rất lớn cho sự hiểu biết. Tâm làm biếng trì trệ thì cũng giống như mặt hồ đang bị phủ một lớp rong rêu rất dày ta không thể nhìn xuyên xuống đáy hồ được. Tâm thụy miên rất là nặng nề. Còn tâm trạo hối, bất an thì được ví như mặt hồ bị những cơn gió thổi qua, mặt nước xao động. Tâm nghi hoặc giống như nước hồ bị vẩn đục vì bùn quấy lên. Trí tuệ của ta lúc này hoàn toàn bị che khuất vì sự mịt mù, tăm tối của tâm nghi ngờ.

Muốn chiến thắng kẻ thù thì phải tìm hiểu chúng. Bây giờ ta đã hiểu kẻ thù trên mặt trận tâm thức của ta là ai rồi, phần tiếp đến là tìm ra phương pháp đối trị với chúng.

Phương cách đầu tiên là ta phải nhận diện được chúng: chúng là ai cái tham hay cái sân v.v..

Đối với cái tham: như phần 3 “Điểm mở” (mừng ngày gặp mặt) Thày đã chỉ dạy cho Minh Mẫn phương pháp đối trị với cái tham. Trong cuộc sống tu tập hàng ngày ta thấy cái tham có mặt khắp mọi lúc mọi nơi qua các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, mồm và tâm ta:

Thấy tiền, của: ai là người không ham, người đó là bậc Thánh. Người ta nói rằng nếu bạn có tất cả của cải của thế gian này, dẫu bạn có được quyền uy như Chuyển Luân Thánh Vương lòng tham của bạn cũng vẫn không tìm thấy đáy. Những người đi tu trong thâm sơn cùng cốc không có dao du với bên ngoài có lẽ đối với họ tiền không cần thiết, không cần nắm giữ, nhưng ngoài đời nếu ai khuyên bảo ta tu rồi cần xả bỏ chuyện tiền bạc, nhiều người trong chúng sẽ phản ứng là “tu không tiền, Tiên không phép?” Mấy ai tránh được sự cám dỗ của đồng tiền, vàng bạc, châu báu, của cải? Minh Mẫn nhớ câu chuyện lịch sử Trung Quốc về nhân vật Hòa Thân đời Vua Càn Long - người dưới một người, trên vạn người. Ông ta là tham quan, giàu hơn cả vua, đến khi tài sản bị vua tịch thu có nói một câu đại ý đồng tiền mình tích góp được phải xài cho mình còn nếu không nó là sự giữ hộ người khác. Bạn thấy không đồng tiền bất chính thì trước sau của Thiên cũng trả về cho Địa. Hơn nữa khi chúng ta lột bỏ cái áo của màn kịch này, ta mang theo được chúng sao?

Sắc đẹp: sắc đẹp của người đàn bà quyến rũ những người đàn ông có khi làm tiêu tan cả sự nghiệp của họ (chắc bạn không quên câu chuyện lịch sử Trung Quốc Vua Trụ mê sắc đẹp của Hồ Quí Ly đến nỗi mất cả giang san); chúng ta ai cũng muốn được xinh đẹp nên dành rất nhiều thời gian chăm sóc, trang điểm cho vẻ đẹp bên ngoài: ở một vài quốc gia việc sửa sang thân thể, mặt mũi, dạy dỗ những cô bé còn rất nhỏ để lớn lên đi thi hoa hậu trở thành một ngành công nghiệp; muốn làm “đẹp lòng” thủ trưởng nhân viên cấp dưới phải sáng thăm, chiều viếng;

Danh vọng, địa vị: ai là người không ham mình được quyền cao chức trọng, được quyền sai khiến mọi người, tiền hô hậu ủng?

Ham muốn trường thọ, ăn ngon, mặc đẹp, được sống trong những điều kiện tiện nghi, văn minh ai là người nói không?

Ham muốn được sống tự do, ngủ nghỉ thoải mái: ai là người từ chối?

Và còn rất nhiều những điều ham muốn, tham dục như thế kể ra không thể hết. Đó là những ham muốn tiêu cực cần phải được từ từ loại bỏ.

Bên cạnh những ham muốn tiêu cực cũng cần phải kể đến những ham muốn tích cực như:

Ham muốn học đạo, tiến bộ không ngừng để ngày nào đó liễu đạo.

Ham muốn trải mình hành đạo vì lợi ích của chúng sinh.

Còn một loại ham muốn nữa mà Minh Mẫn tự hỏi không biết có phải chúng xuất phát từ tâm keo kiệt của mình xin nêu ra đây để tự thú với các bạn. Như bạn thấy đấy mỗi lần Minh Mẫn mua vật phẩm cúng dường Minh Mẫn hay tính toán mua thứ gì, bao nhiêu, mua nhiều sợ tốn nhiều tiền, sợ mình mang tội vì tâm keo kiệt tính tóan, mua đủ lễ hương hoa, ngũ quả thì sau khi dâng cúng ăn không kịp để thối phí phạm của trời.

Khi dâng cúng Thầy Mẹ, Ông Bà, ba Minh Mẫn với vài chung nước lã, vài nhánh bông và một ít trái cây nhưng Minh Mẫn thường khấn là “con kính dâng lên Thầy mẹ, các Đấng Thiêng Liêng, Ông Bà, ba những chén cam lồ thủy tuyệt hảo nhất thế gian, bất tận như nước trong nguồn, nhiều hơn nước Sông Hằng, những đóa hoa thơm ngát sặc sỡ muôn màu lung linh dưới ánh mặt trời, những rừng quả ngọt nhiều hơn Núi Tu Di”. Minh Mẫn cứ nghĩ tâm tưởng của mình sẽ có nhiệm màu hóa ra vô số vật phẩm cúng dường như vậy và sẽ được Ơn Trên ấn chứng (điểm này là tự Minh Mẫn nghĩ ra như thế đó). Minh Mẫn quá tham lam và keo kiệt có đúng không?

Thày chỉ dạy cho Minh Mẫn khi mua bán, và sắp xếp hương hoa dâng cúng không nên tính toán ít nhiều, hay dở, đẹp xấu, cứ để tâm thức tự làm.

Thày còn chỉ dạy thêm cho Minh Mẫn khi dâng cúng Trời Phật, trong thực tế chỉ có thể cúng chén nước và thắp một cây hương nhưng nếu quán tưởng toàn thể trời đất đầy vật phẩm cúng dường chúng ta sẽ được công đức tương xứng với sự dâng cúng ấy. Như Kinh Hoa Nghiêm nói: “Phần lớn vật cúng dường là những tàn, lọng”, nghĩa là những thứ bạn cúng dường là tàn lọng, tràng phan, bảo cái v.v.., bạn nên cúng thêm hương hoa, đèn, trầm, thực phẩm. thực phẩm thì phải quán có nhiều hào quang vây quanh.

Và nên đọc Thần Chú biến hóa thành nhiều đồ cúng hoặc chú cúng dường như sau (ba lần):

Om nama bhavagate, vajra sara pramardane tathagàtaya, arhate samyaksam buddhaya, tadyathà, om vajre vajre, mahà vajre, mahà tejra vajre, mahà vidya vajre, mahà bodhicita vajre, mahà bohdi mandopa samkramana vajre, sarva karma àvarana vishodhana vajre svàhà”. (Đọc theo âm tiếng Việt có phân biệt x, s là om namơ bavagát, vai-i-ra xarơ pramađan tatagatai-ia, arát xam-mi-ắc-sơm buđa-ia, tađi-i-ta, om vai-i-re vai-i-re, maha vai-i-re, maha tei-i-ra vai-i-re, maha viđia vai-i-re, maha bôđixita vai-i-re, maha bôđi manđôpa xamcờramana vai-i-re, xácva cama avaranơ visôđana vai-i-re xva-a).

Nếu tụng Thần Chú này thì một số lượng khổng lồ vật phẩm dâng cúng sẽ mưa xuống trên Cha Mẹ, Chư Phật – những Đấng Chiến Thắng mặc dù ta chỉ có thể cúng rất ít vật phẩm có thực.

Bạn cũng có thể dùng Cam Lồ Thủy Chơn Ngôn để “mưa” thực phẩm xuống cho Quỉ Đói như sau: “Nam mô tôrô bàda, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tôrô, bát ra tôrô, bát ra tôrô. Tabàha” (ba lần).

Bạn cũng có thể dùng Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn hay Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú (xem trong bài “chiếc máy niệm Phật và giấc ngủ”) để “mưa màu nhiệm” thoát khỏi địa ngục cho những chúng sinh đang bị giam cầm.

Nhân đây Minh Mẫn xin Thầy chỉ dạy về công dụng chủ yếu của các bài Thiện Chú mà Thầy đã chỉ dạy cho Minh Mẫn ghi chép lại cẩn thận, đã được đề cập trong bài “chiếc máy niệm Phật và giấc ngủ”:

Ý nghĩa Thần Chú 1: Người niệm “Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni” Thần Chú sẽ luôn có những “giấc mơ” (những điều bạn nguyện cầu mong muốn chính đáng) “như ý mơ” do Phật Mẫu Diêu Trì thể hiện màu nhiệm “mơ” (đôi khi “mơ” của bạn hơi tham lam quá cũng được Mẹ ban phước vì “điểm mở” cho bạn giác ngộ đạo pháp) qua bánh xe pháp luân thường chuyển (bảo luân).

Ý nghĩa Thần Chú 2: Chúa Tể của Càn Khôn Vũ Trụ, Cha của muôn vật muôn loài: Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn sẽ giúp cho người niệm “Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú” được tai nạn tiêu trừ, mọi việc tốt đẹp, hanh thông.

Ý nghĩa Thần Chú 3: Công đức của Thánh Nhân niệm “Công Đức Bảo Sơn Thần Chú” sẽ cao như núi Tu Di, nhiều như nước Sông Hằng.

Ý nghĩa Thần Chú 4: Trong lời bài chú cũng đã thể hiện: Mẫu Chuẩn Đề Đại Từ Bi sẽ gia hộ cho con nào niệm Thần Chú này, vậy bạn cứ yên tâm niệm cho thật nhiều để được Mẹ che chở. Người niệm Chú Chuẩn Đề nếu biết cách bắt ấn đúng sẽ nhận được dòng thanh điển cực mạnh phóng từ trên bách hội xuống khiến trí huệ bạn được khai mở nhanh chóng. Những người tu tập theo Mật Tông thường sử dụng Thần Chú này và Ngũ Bộ Chú :

Om ram

Om tri zim

Om mani padme hum

Om sa lê chu lê chuân đê soa ha

Bơ rum”.

(Âm Hán Việt: Án lam. Án Xỉ lâm. Ám ma ni bát di hồng. Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm).

cộng với bắt ấn làm “xương sống” cho việc luyện tập để phát triển huệ nhãn nhanh chóng, họ sẽ được Mẹ nói nhỏ nhỏ bên tai, chỉ dạy đạo pháp cho họ tu tập giải thoát.

Ý nghĩa Thần Chú 5: người niệm “Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Đà la Ni” Thần Chú sẽ được thọ nhận Thánh vô lượng.

Ý nghĩa Thần Chú 6: Đức Phật Dược Sư sẽ ban cho người niệm “Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn” Thần Chú những viên linh dược giúp bạn hết bệnh khổ của thân (kể cả những bệnh nan y) và tâm.

Ý nghĩa Thần Chú 7: Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát Đại Từ Bi, Linh Cảm Quảng Đại sẽ hiện linh để cứu khổ, cứu nạn cho người niệm “Quán Âm Linh Cảm Chơn Ngôn” Thần Chú.

Ý nghĩa Thần Chú 8: người niệm “Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn” Thần Chú dù có gây ra những tội lỗi lớn lao cũng được tiêu trừ do được Vô Lượng Đức Phật xá tội, do được Mẫu Mẹ Quan Âm mưa màu nhiệm mong người niệm sám hối sửa chữa lỗi lầm.

Ý nghĩa Thần Chú 9: “Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú” dùng để tụng niệm, cầu nguyện cho người chết được siêu thoát về Cõi Tịnh Độ (Tây Phương Cực Lạc).

Ý nghĩa Thần Chú 10: người niệm “Thiện Nữ Thiên Chú” sẽ được Mẹ Địa Mẫu gia hộ cho bản thân có cuộc sống và con đường tu tập tốt đẹp, thuận lợi.

Bạn còn chần chừ gì nữa mà không chọn cho mình một “khẩu quyết thiện chú”? Hãy tham niệm Phật, niệm Thần Chú, tham làm việc thiện, giúp đời một cách tích cực rồi những tham dục tiêu cực trong chúng ta sẽ dần biến đi, nhường chỗ cho những phẩm chất tốt đẹp.

Còn việc đối trị với kẻ thù thứ hai của chúng như thế nào? Tất nhiên ngoài việc nhận ra nó khi chúng vừa khởi lên sẽ giúp ta dần dần vượt qua chướng ngại.

Bạn sẽ phải nhận diện và tự nhủ với mình, sân hận sẽ làm mình mất tự chủ, tính nóng giận sẽ làm mình “mất khôn”, sẽ làm mình mất ngủ, tăng huyết áp và nói chung có hại cho sức khỏe và thần kinh.

Minh Mẫn rất thích phương pháp chinh phục sự nóng giận mà Minh Sư Darshani Deane đề nghị: một là xóa bỏ (delete) những thói quen thích ăn cá thịt vì chúng có nhiều trược điển (xin xem thêm bài Đọc sách dùm bạn “thức ăn và sức khỏe” trên trang “chăm sóc sức khỏe” mà Minh Mẫn đã giới thiệu với các bạn), kích thích tức giận, dâm dục, giảm bớt việc xem các chương trình, đọc những sách bạo có nội dung, hình ảnh khêu gợi, kích thích tính dâm dục, nóng nẩy, bạo động; hai là kiểm soát (control): khi chúng ta nói nhiều chúng ta mất năng lực, sự mất năng lực tạo nên sự tức giận. Do vậy chúng ta nên kiểm soát việc ăn nói, phát ngôn bừa bãi, nên giữ yên lặng (tịnh khẩu càng nhiều càng tốt); ba là nếu đã kiểm soát được rồi thì nên “thêm vào” (insert) hay thay thế những thói quen xấu bằng những thói quen tốt như luyện tập yoga, thiền định giúp thân xác khỏe mạnh, làm êm dịu thần kinh.

Còn nếu khi ai chửi mắng, nhục mạ, nói xấu chúng ta, xin hãy niệm Phật cho tâm dằn xuống và nhớ lại câu chuyện như sau: Một bữa kia Đức Phật đang thuyết pháp thì có người đến công kích Ngài bằng những lời vô cùng mất lịch sự. Đức Phật hỏi người đó rằng: nếu anh đưa cho tôi một tờ giấy mà tôi không nhận thì sao? Người kia trả lời: nếu Ngài không lấy thì tôi giữ lại tờ giấy đó chứ sao nữa. Đức Phật bèn nói: “Đối với các lời nhục mạ của anh, tôi cũng làm đúng như vậy. Tôi không nhận nó và nó ở lại với anh”.

Minh Mẫn còn có một kinh nghiệm khi giận dỗi ai hay buồn bực ai vì một việc gì đó là Minh Mẫn tự hỏi “cái giận”, “thằng buồn” ấy là này cái giận, thằng buồn mày ở đâu, ra đây cho tao xem mày ngang, mũi dọc của mày như thế nào. Lúc đầu nó sẽ xổ ra cho bạn một hơi lý do, bạn cứ hãy chịu khó nghe nó lải nhải. Rồi cứ tiếp tục hỏi nó năm lần bảy lượt, tức khắc nó bí nó sẽ chịu thua thôi. Một cách khác nữa để xử lý “con giận” (chứ không phải con rận (chấy) đâu nhé) là khi bạn ghét người nào đó kẻ địch của bạn tô vẽ cho người nó không ưa nhiều đặc tính xấu. Nó càng tô vẽ nhiều đặc tính xấu bao nhiêu, bạn phải tìm ra những đặc điểm tốt của người nó ghét bấy nhiêu để đặt cạnh bức tranh nó vẽ, càng nhiều càng tốt.

Minh Mẫn nhận thấy tâm lười biếng, buồn ngủ thì “hơi” khó trị vì nhiều khi khó lấy lý trí để chiến thắng chúng. Đôi khi Minh Mẫn cũng hay làm biếng lắm, ngủ chẳng muốn buông màn để cho muỗi thịt chơi, rồi gãi như gãi ghẻ, đôi khi xem tivi rồi “phê” luôn, giật mình tỉnh dậy “thấy trời khuya lắm rồi, mà sao mình vẫn ngồi… ngủ”, hối hận vì quá thời gian phải công phu rồi. Nói vậy thôi chứ nhiều lúc Minh Mẫn cũng phải tự chiến thắng bản thân bằng cách đứng dậy đi lại, tập hít thở theo phương pháp Thầy chỉ dạy, hoặc tắm gội, lập tức mệt mỏi, buồn ngủ biến mất và đầu óc lại minh mẫn, tỉnh táo như thường, bạn không tin mỗi khi mệt mỏi hay buồn ngủ hãy thử lắng tâm, tập hít thở sâu xem Minh Mẫn có nói dối không nào. Đừng bao giờ để cho lười biếng của bạn dẫn bạn đi ngủ bỏ thói quen công phu hay thiền định hàng ngày của bạn.

Tâm lo nghĩ và bất an cần có chánh niệm đối trị. Bạn hãy làm giống như Minh Mẫn gọi danh tánh nó ra như xử sự với buồn rầu, giận hờn và quan sát nó, đừng đồng hóa với nó. Chẳng hạn, bạn hãy tự nhủ những lo lắng đó, bất an đó là tự mình tạo ra vì mình quá lo lắng cho chồng con, không yên tâm với việc làm của họ, chứ họ thừa năng lực để làm việc đó, hoặc giờ này mình đang lo lắng, bất an nhưng chồng con mình đang yên ổn, hạnh phúc vì họ đang làm những điều họ muốn, vì những việc ấy xảy ra là theo ý muốn của Thượng Đế, những điều mình lo lắng như thế tạo nên luồng trược điển có hại cho mình, tác động xấu lên chồng con mình vì mình đang hướng về họ…và bạn cần tạo ra những yếu tố tích cực khi nghĩ về đối tượng hay sự việc đó. Khi những buồn rầu lo lắng bất an lắng dịu xuống, bạn nhìn thẳng vào nó và sẽ thấy nó không có thật, mà đó chỉ là bức tranh trong “dữ”mơ mà bạn đã tự vẽ cho mình. Một cách khác bạn có thể chế ngự “giữ” mơ (cơn giận dữ) bằng cách niệm Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú để lửa lòng của bạn nguội hơn, và mọi việc hanh thông.

Ta cũng có phương pháp đối trị Tâm nghi hoặc (hay đa nghi Tào Tháo tâm). Tâm nghi hoặc của bạn khiến bạn lúc đó giống như một con thú bị sập bẫy hay như một con chim bị trúng tên của người thợ săn. Giờ đây đi đường nào, làm gì bạn cũng phải dò xét, đề phòng vì sợ bị sập bẫy hay trúng tên một lần nữa, tim bạn sẽ đập loạn nhịp vì bạn bị bối rối không biết nên quyết định ra sao, bạn nghi ngờ vào chính khả năng của mình. Nếu có ai đó đề nghị với bạn phương cách giải quyết bạn cũng không đủ sáng suốt để nhận định đúng sai. Tâm nghi hoặc sẽ còn dẫn bạn đến nhiều nghi hoặc khác, đến những gút mắc khác khiến bạn như lạc vào rừng rậm không có lối ra, cuối cùng bạn phải dậm chân tại chỗ không có tiến bộ nhất là khi bạn nghi ngờ chánh pháp. Bạn hãy nhận diện ra nó, đừng hòa đồng với nó, đừng để nó dắt bạn vào những con đường rối rắm của trí tưởng tượng vô minh. Hãy cởi mở tấm lòng rộng lượng, vị tha, buông xả của mình dần dần bạn sẽ thấy việc bạn nghi ngờ là bạn tự lừa dối mình, không có lý do gì mà bạn phải nghi ngờ những người mà trong nhiều kiếp trước đây họ đã là cha, mẹ, anh chị em, các con thân yêu của bạn. Bạn hãy niệm Phật, niệm Thần Chú để trấn tĩnh, định tâm mình lại.

Chúng ta thường có thói quen là hay xua đuổi và đàn áp mỗi khi tâm xấu khởi lên. Tâm đàn áp xua đuổi tự nó cũng đã là một chướng ngại, vì ta làm cho kẻ thù mạnh lên. Chúng ta không quên câu nói: “theo tình, tình phụ, phụ tình, tình theo” hoặc “lửa tình càng dập càng nồng” cũng là một cách ám chỉ ta không nên bám víu vào bất cứ cái gì, cứ buông xả ta sẽ không phải mỏi mắt trông chờ thứ ta cần sẽ đến với ta ví như bạn đang bí khi giải một bài toán khó, bạn đứng lên thư giãn một lát khi trí óc minh mẫn bạn sẽ tìm ra đáp số; và khi lửa đang cháy đừng có đổ dầu thêm. Khi chúng xuất hiện chỉ cần quán chiếu chúng, không phân tích, không phê phán. Chánh niệm có khả năng vô hiệu hóa chúng. Hãy định tâm bằng cách niệm Phật, niệm Thần Chú, minh mẫn đến, tâm xấu tự rút lui.

Tuy đã nhận diện được kẻ thù của chúng ta là ai và tìm ra phương pháp đối trị với nó, nhưng việc đối trị chúng không đơn giản, không thể ngày một ngày hai mà chúng ta giành chiến thắng hoàn toàn. Vì sao vậy?

1/ Vì giặc ở quanh chúng ta, chúng xuất hiện mọi lúc, mọi nơi khi dụ bạn bằng những viên kẹo, khi làm bạn mất tinh thần, mệt mỏi, thủ tiêu ý chí chiến đấu của bạn.

2/ Vì kẻ thù của chúng ta cũng càng ngày càng mưu mô xảo quyệt, thậm chí chúng còn trường kỳ mai phục chờ cơ hội phản công bạn, nếu chúng ta không tỉnh táo cũng dễ bị mắc lừa chúng.

Do vậy bạn phải:

1/ Luôn kiên trì, không nản chí thối lui trong mọi hoàn cảnh. Bạn nên luôn duy trì nếp sống lành mạnh, giản dị, thực hiện chánh pháp để duy trì thân tâm khỏe mạnh, minh mẫn.

2/ Luôn can đảm: đừng bị nô lệ vào thành kiến và những cố chấp của mình, để chấp nhận những điều có thể được khác. Thành kiến thường gặp là chúng ta có sự phân biệt đạo này, đạo kia, pháp này pháp kia từ đó ta cố chấp và bảo vệ cho đạo của mình là hơn đạo của người, pháp của mình đang hành hay hơn pháp của người. Bạn nên buông bỏ những tà kiến đó.

3/ Luôn biết chờ đợi có nghĩa là sự tĩnh lặng của tâm trong bất kỳ một hoạt động nào. Nếu chúng ta cứ lo bận rộn đi “hoằng pháp” (nhiều bạn còn gọi là cứu nhân độ thế, hay giúp đời v.v..), ta sẽ không có được một cái nhìn rõ ràng, ta sẽ không thể nhận ra được sức mạnh và sự hiểu biết phát sinh từ sự lặng thinh, và nhất là ta sẽ không ngừng được sự đối thoại trong nội tâm - sự ngăn chặn mối liên hệ của ta với bên ngoài một cách tự nhiên. Chấm dứt những đối thoại trong nội tâm của mình là khả năng chờ đợi và lắng nghe.

4/ Luôn dũng mãnh, tinh tấn: bạn không sợ bất cứ khó khăn thử thách nào, dũng cảm bước tới dù thân xác bạn có thể ốm đau, yếu đuối, dù bạn ở tuổi gần đất xa trời, dù bạn có bị thiệt thòi về vật chất. Lòng đam mê tu tập, cầu tiến bộ sẽ giúp bạn vượt thời gian, vượt qua những trở ngại, thử thách, tâm bạn sẽ được nhẹ nhàng thanh thản, trong sáng. Sự tinh tấn, lòng dũng cảm của bạn một ngày nào đó sẽ được đền bù xứng đáng: bạn chinh phục được kẻ thù và chúng sẽ quay lại làm trợ thủ đắc lực cho bạn trên con đường tới Hội Long Hoa. Chúng ta có quyền nuôi hy vọng một ngày nào đó liễu đạo chúng ta sẽ giải thoát khỏi khổ đau, xung quanh chúng ta sẽ không còn kẻ thù, tất cả là bạn, là tình yêu, là ánh sáng minh triết hòa chung với ta thành một khối không chia cắt, đẹp như “mơ” có đúng thế không hả các bạn?

Ngày nào tâm ta vẫn còn bị chi phối bởi những chướng ngại nói trên, ta sẽ khó có thể phát triển được trí huệ và hiểu biết. Trong những ngày đầu, ta sẽ cảm thấy nhiều bất an, nghi ngờ và ham muốn, cho đến khi nào tâm ta tạm lắng xuống. Nhưng những trở ngại ban đầu không phải là những trở ngại cuối cùng. Khi khả năng quán chiếu sâu hơn, những chướng ngại ấy sẽ lại phát khởi lên. Nhưng lúc này ta đã tự tin vào cách đối trị của mình, nhất là khi ta thấy rõ sự sanh diệt của chúng. Hiểu được tính chất vô thường của chúng, tâm ta lúc nào cũng sẽ giữ được thăng bằng. Xin bạn hãy luôn là dũng sĩ quyết thắng trên mặt trận tâm thức: đối diện với mọi hoàn cảnh của cuộc đời như là những thử thách, ứng phó một cách vẹn toàn mà không bao giờ than vãn hay hối hận như các binh sĩ tinh nhuệ trong đội quân thần tốc của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Họ đã phải cõng nhau chạy liên tục, còn ta cũng phải chia tay với “mình ảo” để không chạy mà “bay” cho nhanh giành chiến thắng vì thời gian không còn nhiều, ngày giờ Hội Long Hoa sắp đến, Cha Mẹ đang nóng lòng chờ đợi chúng ta. Hãy duy trì sự liên tục và tinh tấn về chánh niệm của mình. Chỉ có một tâm an tĩnh và mềm dẻo không suy chuyển mới có thể vượt qua được những chướng ngại này, để vươn tới giấc mơ Sen Vàng, tới Chân Thiện Mỹ và “mùng màn” Mở.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13 tháng 8 năm 2008
Tức 13 tháng 7 Mậu Tý

Thursday, July 31, 2008

# Ươm Mơ Sen Vàng (Phần 3)

PHẦN 3: ĐIỂM MỞ
MỪNG NGÀY GẶP MẶT


(nhấp chuột phải chọn view image vào hình để xem nguyên bản)

Người trình bày: Thái Minh Mẫn

Có khi nào trong đời bạn đến thăm người quen lâu ngày mới gặp mà được tiếp đón như thế này:

“Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng ao thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta.”

(“Bạn đến chơi nhà” - Nguyễn Khuyến)

và cảm giác của bạn lúc đó như thế nào nếu không phải là buồn chán, thất vọng và thề trong lòng là không bao giờ đến thăm họ lần thứ hai? Người minh mẫn lại hành xử khác: Họ thấu hiếu vật đổi sao dời. Đứa trẻ còn ẵm ngửa ngày nào nay đã cắp sách đến trường, mảnh đất chập hẹp năm xưa nay đã trở nên rộng lớn sung túc nhờ công sức lao động của người chủ. Vị khách lấy sự thay đổi ấy làm vui mừng cho nên mặc dù chỉ có “ta với ta”: ngồi đây một mình mà ngẫm nghĩ, mà suy tư về tình bạn lúc hàn vi, vì chủ nhà còn bận nhiều công việc vườn tược, để rồi tình cảm trong họ mỗi lúc một đậm đà, trong sáng hơn. Vị khách đó đã đạt tới sự minh mẫn trong giao tiếp, sự chia sẻ thấu hiểu với người xung quanh trong mọi tình huống, tới điểm mở của tâm hồn trong sáng.

Ngược lại, khi nghĩ đến cảnh sum họp gia đình chiều ba mươi Tết, thì bất cứ ai, xa nhà đều nóng lòng trở về nhà cha mẹ trong cảnh đầm ấm:

“Tiếng pháo nổ, rồi từng tràng pháo nổ.
Trên bàn thờ mâm cỗ đã bày xong.
Mẹ tôi đang châm dở nén hương vòng,
Và xếp lại trái hồng mâm ngũ quả.
Anh tôi cắt khoanh giò bóc lá.
Chị tôi bưng đĩa cá để lên mâm.
Ông tôi ngồi im lặng nghĩ trầm ngâm,
Ngài khẽ đọc thì thầm câu đối Tết.”
(Trần Trung Phương)

Rồi trong giây phút Giao Thừa tràn đầy hạnh phúc ngất ngây đón Năm Mới, bạn cùng tôi hãy Mơ thoát khỏi vòng vây ngục tù giam hãm linh hồn ta để bay lên chín tầng Trời xanh thẳm thăm Cha Mẹ và mường tượng xem Cha Mẹ ta lúc đó mừng như thế nào và cảm nhận hạnh phúc lớn lao của đứa con xa nhà lâu ngày trở về nhà với Cha Mẹ.

Thày cho phép Minh Mẫn mời bạn cùng dùng cây gậy Như Ý mà Đại Thánh cho Minh Mẫn mượn để thám hiểm không gian bao la trong Vũ Trụ. Bạn luôn phải giữ câu Thần Chú “Vô Tự Chân Kinh” để không bị sức nóng của Mặt Trời thiêu cháy đấy.

Thày bảo chúng tôi hãy nhắm mắt lại, tay bám vào cây gậy Như Ý, cùng Mơ. Chúng tôi có cảm giác như đi trên mây bồng bềnh một lát đáp xuống từng biển thứ nhất ở phía Tây núi đại Thiết Vi sôi sùng sục đầy những người có tội đã tạo nghiệp ác, cảm lấy báo khổ phải lội qua biển này cùng với các thú dữ.

Phía Đông của biển có một biển nữa gọi là biển nghiệp do những nghiệp nhân xấu xa của ba nghiệp mà cảm vời ra.

Được phép của Thày, chúng tôi được các quan trông coi ngục thứ nhất dẫn vào thăm quan ngục địa thứ nhất có tên Thủ Ngao, nơi không có sự hành hạ tội nhân. Nơi đây có bốn loại người thứ nhất mãn số rồi chết, không tạo nghiệp sát sinh, thứ hai, số bị chết oan do bị người ta giết, thứ ba, số kiếp trước giết người, kiếp này bị người giết, thứ tư, số bị chết oan song ân oán giang hồ chưa dứt, lẩn trốn loanh quanh dương trần đòi trả hận bị các Chư Thần bắt về xử phạt.

Những người bị chết ở địa ngục thứ nhất sẽ phải đi vào ngục địa thứ hai có tên Lung Mơ chờ lãnh án hoặc đầu thai làm người hoặc đi tiếp qua các địa ngục khác tùy theo tội của mình, hoặc qua cảnh nhơn hiền tu thêm. Vị quan hướng dẫn cho chúng tôi biết thêm nếu vong nào kiếp trước không giết người, kiếp này bị giết nhưng lòng không hận thù, hiểu sống chết là giả dối thì được ân xá qua cảnh nhơn hiền. Vong nào nhất quyết đòi trả thù thì bị giam giữ trong ngục ngay không xét xử.

Trong ngục địa thứ ba có tên Mão Mơ giam giữ người bị hình phạt ở các địa ngục tùy theo tội trạng của mình chờ xét xử lại rồi lãnh án để sanh làm người hoặc qua cõi nhơn hiền tu thêm. Ở ngục này tội nhân lúc nào cũng hai tay ôm đầu đi đi lại lại như người bị mộng du.

Ngục địa thứ tư các tội nhân hủy hoại hạt ngọc Trời cho phải ăn dòi, nấu rượu lậu phải uống rượu, các tội khác thì đầu thai làm kiếp thú hoặc người ngu độn.

Khi vào đến ngục địa thứ năm chúng tôi thấy các tội nhân bị mang cùm vì tội dối gạt người, nói thêu dệt, hễ đi một bước là bị quỉ sứ đánh một bước đến nỗi lê không nổi.

Những người khi sống sát sanh các con vật để bồi bổ tấm thân của mình bị giam vào địa ngục thứ sáu có tên Lò Nướng Mơ. Các tội nhân bị quay trên lò nướng mỡ chảy xèo xèo, rên ra thảm thiết.

Ngục thứ bảy có tên Tùng Xẻo Mơ. Linh hồn người chết bị đọa xuống đây sẽ bị quỉ sứ móc mắt, cắt tai, cắt lưỡi, moi tim gan đau đớn vô cùng họ kêu la vang cả ngục. Trong địa ngục thứ bảy có rất đông những người trước kia tà dâm khi còn sống, họ bị cưa cắt, xay nát, bầm quết, những người trước kia mưu mô xảo trá, cho vay nặng lãi, bị hành hình cho chết đi sống lại nhiều lần.

Chúng tôi thiết tưởng địa ngục thứ bảy là khủng khiếp lắm nhưng ngục địa thứ tám có tên Chiên Ngó với những vạc dầu sôi sùng sục để dành cho những tội nhân mắc tội loạn dâm, chửi mắng Trời Đất, khi dễ Thánh Thần, chia rẽ anh em trong gia đình, phá thai lấy tiền v.v..Tù nhân còn bị chim sắt mổ xẻ, ăn thịt rồi lại bị quỉ sứ cho sống dậy tiếp tục hành hình.

Ngục địa thứ chín có tên Mạn Ngỗ là nơi giam giữ các tội nhân miệng tung hô Phật Pháp Tăng nhưng bụng thì “một bồ dao găm” hoặc phá giới, sát sanh, cống cao ngã mạn, chia rẽ tăng đoàn. Một số trong họ phải quì trước đèn lưu ly tụng kinh vì khi sống tụng kinh người đời không đủ, số khác bị hành hình không khác các ngục địa khác mà chúng tôi đi qua.

Địa ngục là những nơi tối tăm nhất của lòng mình. Càng xuống sâu dưới các tầng địa ngục, linh hồn con người ta càng bị đọa đày đau khổ do những tội lỗi mà chính mình đã gây ra trong quá khứ (lúc còn sống). Vì sao vậy? Vì cái tôi, cái tâm giả kiến tánh của chúng ta. Chúng ta đã có những “ác mộng” (những ma mơ) khi “mùng màn mơ” (làm diễn viên khi còn sống) để đến lúc dâng mão thay vì về nhà gặp Mẹ Cha sum họp ta lại tiếp tục làm Ông Kẹ (Ngáo Ộp) cho chính mình.

Chúng ta đã biết, mọi suy nghĩ, lời nói, hành động của ta không mất đi mà nó được ghi lại ở a da lại thức (bánh xe luân hồi, luân xa hoa sen tám cánh) của chúng ta như đã phân tích ở phần II “Sum Họp”. Những “cái nhân” độc ác, gian ngoan, lọc lừa, toan tính, mưu mô, bất hiếu, lười nhác mà chúng ta gieo khi còn sống chắc chắn ít nhiều làm chúng ta ân hận, nuối tiếc, hổ thẹn, giày vò với lương tâm mình, khi tứ đại trong ta tan rã. Cuốn phim mà chúng ta tự xem được do những duyên khởi trong quá khứ của chúng ta bị mã hóa qua chiếc gương tâm (mà có người cho rằng Diêm Vương cho xem lại để tội nhân khỏi chối cãi). Tòa án lương tâm xét xử chúng ta chứ không ai khác. Những người có may mắn chết đi sống lại kể cho chúng ta nghe rất nhiều về những hình ảnh khiếp sợ mà họ thấy ở địa ngục: người sát hại súc vật như heo, bò gà…làm nguồn lợi cho mình khi chết đi sẽ thấy những con vật đó bám theo đòi mạng, cắn xé trả thù. Người xưa có câu “ngậm máu phun người dơ miệng mình.” Những lời nói gây tổn hại đến người khác, gây chia rẽ tăng đoàn ắt sẽ dẫn đến cái cảnh người chết sẽ thấy rắn ăn, trăn quấn v.v..

Đức Địa Tạng Bồ Tát chỉ dạy cho chúng ta rằng chúng sanh từ nơi thân khẩu ý tạo ác, kết quả sẽ gặp nhiều báo ứng xin trích lược một số như:
Nếu sát hại loài sinh vật quả báo bị chết yểu.
Nếu trộm cắp quả báo nghèo khốn, khổ sở.
Nếu tà dâm quả báo làm con chim se sẻ, bồ câu, uyên ương.
Nếu nói lời thô ác quả báo quyến thuộc kình chống nhau.
Nếu hay khinh chê quả báo không lưỡi miệng lở.
Nếu nóng giận quả báo thân hình xấu xí.
Nếu bỏn sẻn quả báo cầu muốn không được toại nguyện.
Nếu buông lung săn bắn quả báo kinh hãi điên cuồng mất mạng.
Nếu trái nghịch cha mẹ quả báo Trời Đất tru lục.
Nếu đốt rừng, cây cỏ quả báo cuồng mê đến chết.
Nếu làm cha mẹ ghẻ ăn ở độc ác quả báo thác sanh trở lại hiện đời bị roi vọt.
Nếu dùng lưới bắt chim non quả báo cốt nhục chia lìa.
Nếu hủy báng Tam Bảo quả báo đui, điếc, câm, ngọng.
Nếu khinh chê giáo pháp quả báo ở mãi trong ác đạo.
Nếu lạm phá của thường trụ quả báo ức kiếp luân hồi nơi địa ngục.
Nếu ô nhục người hạnh thanh tịnh và vu báng Tăng già quả báo ở mãi trong loài súc sanh.
Nếu dùng nước sôi hay lửa chém chặt, giết hại sinh vật quả báo phải luân hồi thường mạng lẫn nhau.
Nếu phá giới phạm trai quả báo cầm thú đói khát.
Nếu phung phí phá tổn của cải một cách phi lý quả báo tiêu dùng thiếu hụt.
Nếu kiêu mạn cống cao quả báo hèn hạ bị người sai khiến.
Nếu đâm chọc gây gổ quả báo không lưỡi hay trăm lưỡi.
Nếu tà kiến mê tín quả báo thọ sanh vào chốn hẻo lánh.
Ngài lại chỉ dạy thêm rằng những chúng sanh ấy trước phải chịu lấy các quả báo như thế sau lại đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào thoát khỏi do những nghiệp cảm sai khác của mình.

Rõ ràng là ở đời nếu con người ta:

“Không tin nhân quả.
Độc ác hại nhau.
Chẳng kính Tam Bảo.
Địa ngục khổ đau.”

Bạn cũng có thể “Mơ” giống như Minh Mẫn mượn gậy như ý của Đại Thánh để chiêu cảm ra tên một số các địa ngục như địa ngục Hỏa Cẩu (nơi Chó Lửa chực sẵn lấy mạng tội nhân), địa ngục Hỏa Mã (nơi Ngựa Lửa chờ phanh thây), địa ngục Thiêu Thủ (thiêu đốt thủ cấp), địa ngục Thiêu Cước (thiêu đốt chân) địa ngục Hỏa Sơn, địa ngục Hỏa Thạch, địa ngục Hỏa Lương v.v...

Bạn cũng có thể lắng nghe lời Đức Địa Tạng Bồ Tát chỉ dạy về những tội báo trong địa ngục:
Có địa ngục kéo lưỡi người tội ra mà cho trâu cày trên đó.
Có địa ngục moi tim người tội để cho Quỷ Dạ Xoa ăn.
Có địa ngục vạc dầu sôi sùng sục nấu thân người tội.
Có địa ngục đốt cột đồng cháy đỏ rồi bắt người tội ôm lấy.
Có địa ngục từng bựng lửa lớn bay tới tấp vào người tội.
Có địa ngục toàn cả thuần là băng giá.
Có địa ngục đầy vô hạn đồ phẩn tiểu.
Có địa ngục lao gai, chông sắt.
Có địa ngục đâm nhiều giáo lửa.
Có địa ngục chỉ đập vai, lưng.
Có địa ngục chỉ đốt chân tay.
Có địa ngục cho rắn sắt quấn cắn.
Có địa ngục xua đuổi chó sắt.
Có địa ngục đóng ách lừa sắt.

Những quả báo như thế trong mỗi ngục có hàng trăm ngàn khí cụ hành hình tội nhân bằng đồng, bằng sắt, bằng đá, bằng lửa này là do các hạnh nghiệp quấy ác của chúng sanh mà cảm vời ra.

Xin nêu ra đây để các bạn mường tượng về nỗi khổ của chúng sinh bị đọa vào địa ngục vô gián (địa ngục không nghỉ ngơi). Thọ mạng trong tám địa ngục nóng rất dài. Những thọ mạng ngắn nhất là của chúng sinh trong địa ngục Sống Lại Liên Tục. 50 năm của đời người bằng 1 ngày trong cõi trời Tứ Thiên Vương. 30 ngày làm 1 tháng, 12 tháng làm 1 năm; chúng sinh cõi này thọ mạng là 500 năm tính theo kiểu ấy. Vậy mà đây chỉ là 1 ngày trong địa ngục Sống Lại Liên Tục. 30 ngày như thế thành 1 tháng, 12 tháng thành 1 năm. Một đời sống trong địa ngục đó tính theo năm nhân loại là 1.62 x 10 lũy thừa 12 năm.

Ngài Thế Thân Bồ Tát có nói về thọ mạng của những chúng sinh tái sinh vào địa ngục lạnh như sau:

“Khi làm cho trống không một thùng mè
Bằng cách lấy ra từng hột
Cách khoảng một trăm năm.
Đấy là thọ mạng của những chúng sinh này.
Những địa ngục ở dưới mỗi tầng tăng lên 21 lần”.

Theo Minh Mẫn suy đoán từ lời chỉ dạy của Đức Địa Tạng Bồ Tát: tất cả các hình phạt tội nhân, cảnh tượng mà người chết thấy mình bị hành hình ra sao đều do tâm tưởng của chúng sanh khi còn sống đã làm nhiều điều ác quấy không mất đi, nó để lại dư âm xấu. Khi tứ đại trong Tiểu Vũ Trụ từ từ tan rã họ đã tưởng tượng ra những cảnh đó, và tất nhiên linh hồn bị chìm xuống vùng năng lượng thấp, nhiều âm khí, trong Vũ Trụ bao la người ta gọi đó là địa ngục chứ không có một ai tạo ra cái địa ngục đó cả. Hay nói một cách khác sự tan rã lần lượt của từng yếu tố đất, lửa, nước, gió đã “giằng, xé”, “cắn, rứt”, “thiêu, đốt” lương tâm họ khiến họ cảm thấy đau đớn, khổ sở vô cùng vì tâm tưởng của mình chiêu cảm ra. Họ đã không thể yên nghỉ ngàn thu dưới suối vàng như thân quyến của họ cầu mong cho họ, mà họ đang đi vào nơi rừng rậm, bị rớt xuống vực thẳm, bị thú dữ đuổi theo v.v..vì những ác nghiệp do mình gây ra. Một câu niệm Phật có thể cứu họ ra khỏi địa ngục. Thêm vào đó lời khai thị của thân quyến họ, những người còn sống có thể phần nào giúp họ tỉnh ngộ, thoát khỏi vòng nguy hiểm, tiến hóa, trở về với tánh không. Vũ Trụ vẫn chỉ là một khối hỗn mang, không hình tướng, không màu sắc, mùi vị, âm thanh luôn chuyển dịch thế thôi.

Những người khi còn sống hàng ngày có thực tập thiền định, niệm thần chú, trong địa ngục khổ đau do tự mình chiêu cảm ra nếu được nghe Kinh Địa Tạng, được nghe niệm Phật chắc chắn họ sẽ thoát ra khỏi địa ngục của lòng mình. Nếu tôi và bạn cũng có được Phật nhãn như Đức Địa Tạng Bồ Tát chắc chắn chúng ta cũng sẽ thấy có những linh hồn người chết đang lang thang trong không trung hoặc không biết đi về đâu hoặc cố “giãy giụa” khỏi các trạng thái của tâm sân si của mình, trở về dương trần để làm nốt những việc mà họ muốn ví dụ như trả thù, đòi nợ tình, tiền v.v..hoặc nhập vào xác người ở dương trần như một “ma Mơ” (oan nghiệp) khiến cho nhiều người trong chúng ta ở dương thế bị ốm đau, bệnh hoạn. Những ác nghiệp mà họ đã tạo trong quá khứ sẽ dẫn dắt họ trong vòng luẩn quẩn của địa ngục không biết tới chừng nào mới có ngày thoát khỏi!

Thày chỉ dạy cho Minh Mẫn biết một niệm Địa Tạng, Quan Âm hay A Di Đà có năng lực hóa giải khiến cho chúng sanh đang trong địa ngục tức khắc thoát khỏi địa ngục để trở về cảnh giới của cận tử nghiệp (nghiệp sát với nghiệp khiến họ tái sanh trước khi mất thân xác vật lý). Thường thì họ được đưa về luân hồi cảnh giới (cảnh giới mà từ đó họ lại tiếp tục luân hồi sinh tử với những cái tên mà chúng ta thường nghe Trời, Người, Atula).

Với những người chết có nhiều ác nghiệp địa ngục do họ chiêu cảm ra nào là băng giá, lửa thiêu đốt, thú dữ cắn xé, ăn thịt, nào là dụng cụ hành hình tra tấn v.v.. Vậy đối với những người sống khi còn màn vô minh che phủ, cuộc sống chúng ta đầy khổ đau và chúng ta cũng đang sống trong địa ngục của trần gian? Xin lấy một ví dụ nhỏ. Giả sử người hàng xóm bị mất cắp món đồ và nghi cho bạn lấy cắp rồi kiếm cớ chửi mắng xúc phạm và vu oan cho bạn. Phản ứng của bạn sẽ ra sao? Cho Minh Mẫn “mơ” (tưởng tượng) một tí nhé. Nếu bạn là người nóng tính bạn sẽ nổi dóa lên chửi bới lại người hàng xóm một trận cho hả dạ để rồi sau đó bạn nằm lăn ra vì chứng tăng xông của mình, hoặc nếu bạn nổi máu anh hùng sẽ rủ ông ta ra ngoài đường thượng cẳng chân, hạ cẳng tay cho ông ta một bài học nhớ đời để lần sau đừng có mà bố láo để rồi người bạn phải ê ẩm vì quả đấm giáng trả của ông hàng xóm hơi mạnh v.v.. Nếu bạn là người chịu đựng bạn sẽ lặng thinh không một lời giải thích để họ muốn nghĩ gì thì nghĩ miễn mình không lấy cắp là được rồi nhưng rồi khi bạn bước ra cửa ánh mắt không ám nhìn thẳng vào ông hàng xóm, hoặc nếu bạn bị công an khu vực đến nhà điều tra sẽ cảm thấy xấu hổ, tối nằm tức trong bụng không ngủ được v.v.. Nếu bạn là người v.v.. Như thế có rất nhiều hạng người với nhiều tính cách khác nhau, cùng một sự việc, họ có thể “chiêu cảm” (tưởng tượng, suy nghĩ, cảm nhận) dẫn tới quyết định hoặc bằng lời nói, hành động khác nhau và hậu quả tác động trở lại với họ cũng khác nhau, rồi họ “sống” với những thứ đó như đang sống trong địa ngục chỉ khi nào họ có đủ minh mẫn nhìn thẳn vào sự thật, giải thích đàng hoàng với ông hàng xóm và coi chuyện đó không có gì xảy ra, bắt tay nhau chung sống vui vẻ thì bầu không khí mới cởi mở hết căng thẳng.

Vậy có phải cuộc sống này địa ngục cũng do ta tạo ra mà hạnh phúc, an lạc cũng chính ta tạo ra cho mình? Vì sao vậy? Vì đối nghịch của địa ngục là niết bàn, địa ngục ta tạo ra cho chính mình thì ta cũng có thể ung dung tự tại sống trong niết bàn. Phải làm như thế nào mới thoát khỏi địa ngục trần gian? Theo bạn có phải luôn quán chiếu về sự vô thường, thực tập hạnh từ bi hỷ xả, thiền định để định tâm?

Nếu chúng ta không có trí huệ, mọi thứ chung quanh ta đều sẽ là nguồn gốc của sự khổ. Nếu chúng ta khôn ngoan, những thứ này sẽ mang chúng ta khỏi khổ đau. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm…Mắt không nhất thiết là điều tốt, bạn biết mà. Nếu bạn đang buồn phiền, chỉ nhìn thấy người khác thôi có thể làm cho bạn tức giận và mất ngủ. Hay bạn có thể đang yêu. Yêu cũng là đau khổ, nếu bạn không đạt được điều mình muốn. Tình yêu và hận thù đều là đau khổ, bởi vì có sự ham muốn. Muốn là đau khổ. Muốn không có một thứ gì cũng là đau khổ. Muốn đạt được điều gì – ngay khi cả bạn đã đạt được nó, bạn vẫn đau khổ, bởi vì bạn sẽ sợ mất nó. Chỉ toàn là đau khổ. Làm sao có thể sống với những thứ đó? Bạn có thể có một căn nhà rộng lớn, sang trọng, nhưng nếu tâm bạn không tốt, sự việc sẽ chẳng êm đẹp như bạn tưởng.

Minh Mẫn rất thích truyện Tây Dy Ký của Ngô Thừa Ân với 81 tai nạn của thày trò Đường Tăng trên đường về Tây Trúc thỉnh Kinh. Dưới con mắt người học Phật Minh Mẫn cho rằng tác giả đã khéo léo sử dụng các hình ảnh sinh động để miêu tả sự tu hành của con người (Đường Tăng Tam Tạng) phải trải qua bao nhiêu khổ đau với 80 nạn kiếp dưới địa ngục đã phải đấu tranh để chiến thắng ma quỉ. Đồng hành cùng với Đường Tăng luôn có Tôn Hành Giả, một con khỉ sinh ra từ đá do hấp thụ tinh khí Trời Đất, nhưng rất thông minh, mưu trí, dũng cảm, thủy chung và giàu lòng vị tha. Cái hình dáng bên ngoài là con khỉ, một con vật không chịu ở yên, chân tay luôn táy máy, hết buông cái này lại nắm cái kia phải chăng là sự ẩn dụ khéo léo của tác giả muốn ám chỉ phần “con” trong con người chúng ta với cái tâm luôn vọng động, còn tố chất tốt đẹp của Hành Giả chính là tố chất cao quí của của con người, một động vật cao cấp của chúng ta? Nếu không có sự giúp đỡ đắc lực của Hành Giả, linh hồn của câu chuyện thì liệu Tam Tạng - con người mang thân tứ đại với Thân Khẩu Ý có đi đến Tây Trúc lấy được Vô Tự Chân Kinh hay không? Hành Giả vẫn rất phải phò Thày Tam Tạng (mặc dù bị Thày mình bao phen đuổi đi, hoặc niệm Thần Chú để vòng Kim Cô siết vào đầu làm cho đau đớn) tức là cần một thân tứ đại của một con người bình thường với các lục căn, ngũ trần như của chúng ta đi vào đời sống xã hội để tôi luyện. Thân tứ đại ấy luôn phải xử trí với Bát Giới, một con heo ngu muội, lười biếng, ham sắc, hay xúc xiểm, bươi móc Hành Giả. Một con Quỉ Sa Tăng đại diện cho sự độc ác, tham lam, ích kỷ luôn theo Tam Tạng trên đường thỉnh kinh. Đã bao phen Hành Giả đã xuống địa ngục gặp Diêm Vương, Thủy Long Cung gặp Long Vương, vào động yêu, lên Thượng Giới dũng cảm, mưu trí để đòi công bằng, tìm chân lý, giải thoát cho Thày tức cho chính mình khỏi vòng tai ương, vướng mắc. Đại Thánh thần thông quảng đại, mưu trí với gậy như ý vẫn nhiều khi bị mắc nạn cho chúng ta bài học là thần thông không phải mục đích cuối cùng của người tu, nếu không có trí huệ Tôn Hành Giả vẫn có thể bị Ngưu Ma Vương dùng hồ lô thâu gọn. Ngộ Không đã phải đấu tranh để không bị núi Hoa quả đầy hạnh phúc với bày con cháu tung hô mỗi khi bị Thày đuổi, luôn dũng cảm, tinh tấn tu hành để về được Tây Trúc cùng với Thày và các huynh đệ. Ở Hành Giả chúng ta cảm nhận được không chỉ Tam Tạng: Luật Tạng, Giới Tạng, Kinh Tạng; Thân, Khẩu, Ý; Ba báu Bi (sự từ bi không sát hại chúng sanh của Đường Tăng), Dũng (sự dũng cảm đương đầu với ma quỉ bất chấp hiểm nguy) rồi sau cùng nhờ hai tố chất đó đạt Trí (trí huệ của Đấu Chiến Thắng Phật); Tam Công (công phu, công quả, công trình) Tứ Lượng (tứ vô lượng tâm). Hành Giả đã chưa ngộ được tánh không ở nạn kiếp thứ 80 còn 1 thử thách phải vượt qua là buông bỏ tất cả mới đạt được Vô Tự Chân Kinh (“khi đến gặp Phật Tổ, Phật Tổ nói: “Các người ngày nay tay không đến cầu, cho nên họ mới đưa giấy trắng đó là Chân Kinh nên không có chữ, cũng là một thứ tốt”) và đã giúp cho các chúng sinh ở trong ba đường ác đạo được “độ tha”. Điểm mở mà Hành Giả đã đạt được, đã làm được là mục tiêu cho chúng ta phấn đấu đạt được.

Hành giả không là ai khác ngoài chúng ta đang trên con đường tìm Chân Lý? Nếu bạn muốn có được có 72 phép thần thông như Ngộ Không để đánh yêu tinh thì trước hết hãy “tập” đừng sợ ma và đừng để bị ma nhát và hãy cùng họ tu tập để cùng về được Lôi Âm Tự.

Gậy Như Ý của Đại Thánh tiếp tục đưa chúng ta xuống thăm chỗ tái sinh của loài quỉ đói là Kapilanagara. Đô thị của quỉ đói nằm dưới mặt đất cách 500 do tuần (một do tuần độ 40 dặm). Nơi ấy tuyệt đối không có cây cỏ và nước uống; toàn thể mặt đất hoang vu như bị lửa mặt trời thiêu đốt. Thân thể chân tay của loài quỉ đói cực kỳ xấu xí. Tóc chúng bện lại trên những cái đầu khổng lồ, những nét mặt nhăn nhúm, cổ của chúng hết sức nhỏ không thể đỡ lấy cái đầu. Chúng có những thân thể khổng lồ và một số chân tay so le gầy như những cọng rơm không chống đỡ nổi thân hình. Chúng bước đi một cách khó nhọc trăm lần hơn những người già ở cõi người chúng ta. Trong nhiều năm chúng không tìm được cái gì để uống, bởi thế trong cơ thể chúng nó tuyệt đối không có một chút nước, không có máu đỏ, máu trắng v.v.. Những bắp thịt và sợi gân của chúng được gói trong làn da khô cằn trông như một que củi khô bọc trong da thuộc màu nâu. Khi chúng di chuyển thì những khớp tay chân kêu răng rắc như củi khô hay hai cục đá gõ vào nhau. Những khớp xương chúng tóe ra những tàn lửa vì ngạ quỉ đã không có gì để ăn uống trong hàng trăm ngàn năm nên chúng vô cùng đau khổ. Lại nữa, không có một nơi nào mà chúng không không đến để tìm cầu thức ăn uống. Vì không cần biết đến những nhu cầu của thân xác trong cuộc lữ ấy nên chúng kiệt sức. Chúng rất kinh hoàng khi thấy chúa tể của đô thị quỉ đói vì sợ chết. Trong hơi nóng mùa hè, ánh trăng sáng cũng đủ đốt cháy chúng, và vào mùa đông thì ánh mặt trời cũng làm cho chúng rét lạnh, bởi vậy chúng đau đớn vô cùng.

Có ba loại quỉ đói:
Một là, loài ma quỉ mê ngoại cảnh: loài quỉ đói này trông thấy cây, nước…đều đầy nhũng trái chín, chúng mệt mỏi lê bước theo những đoạn đường dài để đến đây, nhưng khi đến nơi thì những vật ấy đều biến mất. Khi một vài quỉ đói đến được những nơi có thức ăn thì lại có những người vũ trang canh giữ không cho chúng ăn. Bởi thế ngoài nỗi khổ đói khát chúng còn bị khổ không thể tả vì thể xác kiệt sức và tâm hồn tuyệt vọng.

Hai là, loài quỉ đói bị ám ảnh nội tâm: loài quỉ này thỉnh thoảng được thức ăn nhưng không cho vào miệng được. Cổ chúng có những gút mắc làm cho sự nuốt thức ăn rất khó khăn. Một vài ngạ quỉ phải uống tạm chất mủ hôi thối từ nơi những cái bướu của chúng. Thức ăn mà chúng ăn mang hình dạng của những nghiệp khác nhau mà chúng đã tích lũy: những hòn sắt nung đỏ, những hạt trấu, mủ hay máu thịt của chính mình…những quỉ đói này phải chịu những nghiệp báo không thể chịu nổi. Thức ăn uống có thể lọt xuống cổ một vài quỉ đói nhưng liền biến thành sắt sôi khi đến bao tử, nên chẳng những không đỡ khát mà còn làm cho đau đớn vô cùng. Lại có một loại quỉ đói không bị như vậy, nhưng bụng chúng lại quá lớn không thức ăn nào làm cho đầy được. Từng tờ lửa ngọn – lửa của cơn đói tuôn ra từ miệng những quỉ đói này; lửa ma trơi chính là lửa từ miệng của những quỉ đói.

Ba là, loài quỉ có những gút mắc làm chướng ngại: ngạ quỉ này có một dọc ba cục bướu nơi cổ làm cho chúng vô cùng đau đớn, chúng la lên 5 thứ âm thanh vô cùng ghê rợn.

Nguyên nhân cho một tái sinh như thế là không rộng lượng, nghĩa là keo kiệt với những sở hữu của mình, lòng tham không đáy, đắm mê tài sản, ngăn cản người khác bố thí, ăn trộm của người, trộm của tăng chúng, phỉ báng việc bố thí…Khi một ngạ quỉ thuộc hạng cổ bị thắt gút nhận được giọt nước nào thì đấy là nhờ trong quá khứ nó đã không hà tiện khi cho nước; còn những quỉ đói khác không có cái may mắn để hưởng chút nước nào.

Ngày nay những người hà tiện được khen là “khôn ngoan” nhưng đặc biệt thói hà tiện là một nguyên nhân tái sinh làm ngạ quỉ. Chúng ta hành xử một cách hà tiện, nên điều chắc chắn là ta sẽ tái sinh thành quỉ đói sang năm hay nhiều nhất là bốn mươi năm sau nếu chúng ta không vào địa ngục.

Vì thế có câu nói dành cho ngạ quỉ là:

“Tham lam bỏn sẻn,
Ích kỷ ghét ganh,
Thấy lợi giành tranh,
Đói khổ hoành hành”.

Đặc điểm của cảnh giới súc sanh là sự thiếu vắng cảm giác hỷ lạc, tâm thức hài hước. Biểu tượng của cõi này là thế giới thú vật. Chúng có cảm giác hạnh phúc hay đau khổ, nhưng không hề biết cười.

Trong đời sống hàng ngày ta sẽ đi vào cõi này một khi chỉ nhắm mắt đi theo một quan điểm cực đoan nào đó, hoặc một khuôn khổ lý thuyết nhất định, rồi tuyệt đối tin tưởng vào đó, một cách cố chấp, không suy xét, không thay đổi. Một con người như thế có thể rất siêng năng cần mẫn và vui lòng với cuộc sống, như một bác nông phu với cái cày và cách thức canh tác của mình, như một thương gia, một người cha trong gia đình, chỉ mong muốn không có gì bất ngờ xảy ra, tránh mọi bất trắc. Tất cả đều theo những tiêu chuẩn, lề luật đã định sẵn, tất cả phải đều được tính toán từ trước. Trong cảnh giới súc sinh, mỗi một điều lạ, mỗi một bất ngờ là một thứ tai họa và sẽ là nguyên nhân gây sợ hãi, hỗn loạn giữ dội.

Súc sinh trải qua 5 nỗi khổ: ăn thịt lẫn nhau, ngu si ám chướng, nóng lạnh, đói khát, bị khai thác hoặc sai làm việc nặng. Nỗi khổ súc sinh nhẹ nhất trong ba đọa xứ, nhưng tái sinh vào đấy thì có nỗi khổ ăn thịt lẫn nhau. Những thú vật có thân thể khổng lồ như loài thủy quái… thân thể dài nhiều do tuần. Nhiều thủy quái thuộc loài cá, những thủy quái khác làm cá voi có thể nuốt chúng và ngay nhũng cá voi lớn cũng nuốt cá bé. Nhiều sinh vật nhỏ cư trú trong thân thể của những thủy quái để ăn thịt. Đến khi chúng không thể chịu đựng được nữa, chúng cọ xát thân thể mình vào những tảng đá dưới nước làm cho những sinh vật ăn bám cơ thể chúng phải chết, và đại dương bị nhuộm đỏ nhiều do tuần.

Những sinh vật lớn nuốt sinh vật bé trong khi những sinh vật nhỏ bé ăn rỉa những sinh vật lớn. Những thú vật ở đại dương chồng chất lên nhau và bị ăn thịt từ sau lưng. Những chúng sinh tái sinh dưới đáy biển sâu, giữa các lục địa không nhận ra nhau, mẹ không nhìn ra con và ngược lại, chúng ăn bất cứ gì rơi vào mồm và bởi thế chúng sống nhờ ăn nuốt lẫn nhau.

Ngay cả những loài vật trong cõi người cũng ăn lẫn nhau: diều hâu ăn chim, chim ăn sâu bọ, những con thú ăn mồi và thú rừng ăn lẫn nhau…

Có thể nói súc sanh là cõi của những:

“Ngu si biếng lười,
Dối gạt, móc bươi,
Làm thân súc vật,
Đền trả cho người”.

Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì vừa thoát khỏi cảnh giới của ba ác đạo, và giờ đây gậy như ý của Tề Thiên Đại Thánh giúp chúng tôi lên thăm cõi Địa Tiên, Nhân Hiền. Cảnh vật thật là xinh đẹp, con người to lớn hơn ở Trần Gian, họ không già, không bệnh tật ốm đau, sống với thiên nhiên, khỏi phải làm lụng vất vả, khỏi bận đến tâm đến cơm ăn áo mặc, hàng ngày chỉ lo tu hành, luận đạo, nghe thuyết pháp, châu báu chất đầy. Những người khi còn sống ở cõi thế trọn hiếu, trọn trung hoặc trọn tiết mà không phạm tội sát sanh hại mạng, không hủy báng Tam Bảo khi chết được về cảnh Địa Tiên, hàng ngày do họp đạo tu thêm lần đắc quả về cõi trời mà lo tu nữa.

Cõi Hồng Trần của chúng ta còn có tên là Đại Thiên Thế Giới vì bản thể con người là Tiểu Thiên Thế Giới. Cõi Địa Tiên còn có danh là Quần Tiên Đại Hội vì ở đó các vị Địa Tiên thường hội họp để lo điều động công việc ở cõi Trần. Được biết khi hành giả lên cõi này sẽ gặp ngay cuộc thử thách về danh vọng: ở đó người ta trương ra một tấm bảng có sẵn tên của hành giả, đón chào hành giả và mời ở lại luận bàn về việc đề nghị hành giả sẽ chấp nhận một chức vị Vua hay Tổng Thống một quốc gia ở cõi Trần, hoặc chấp nhận một chức Giáo Chủ một tôn giáo nào đó. Ở trường hợp này, nếu lòng hành giả còn ham phú quí tất hành giả sẽ chấp nhận. Khi chấp nhận ở lại đó thì hồn phải bỏ xác thân hiện tại. Sau đó, Quần Tiên sẽ xem xét hành giả thích nhận chức vị gì ở quốc gia nào, thì sẽ cho hồn đầu thai xuống nơi đó và sẽ có địa vị đó, vì mọi việc ở cõi Trần đều do Quần Tiên điều khiển, nhất là việc thuộc chính trị, cách mạng và tôn giáo. Nhận địa vị đó rồi khi chết hồn sẽ phải luân hồi. Nếu hành giả là người quyết tâm tu giải thoát thì chỉ nên ghé qua, từ chối mọi lời mời của giới Địa Tiên.

Nhân đây xin nói thêm trường hợp các Đấng Thiêng Liêng mượn xác những người bình thường tiếp điển chỉ dạy cho nhân loại hoặc dùng phương tiện chữa bệnh… để giáo hóa chúng sinh cũng vì luồng điển của Ơn Trên quá thanh nhẹ, chúng ta người phàm mắt thịt không nghe, không thấy được nên mới phải dùng phương tiện đó. Những Bậc đã đắc đạo như Đại Đức Rampa, Hòa Thượng Tuyên Hóa, Đức Dalai La Ma… phải đi khắp nơi nói pháp, chữa trị bệnh, dạy thiền định cho chúng sinh nhưng không vì thế mà các Ngài bị Luân Hồi. Các Ngài xuống Trần vì tâm nguyện cứu độ chúng sinh và cũng đã và đang khoác áo Địa Tiên.

Thày chỉ dạy cho Minh Mẫn biết: Cõi Địa Tiên rất gần với Hồng Trần (cách chúng ta khoảng 10 năm ánh sáng Thiên), những linh hồn ở cõi này vẫn còn lớn, ngang với xác thân, từ cõi Trung Thiên trở lên hồn mới bắt đầu có kích thước nhỏ hơn. Ở cõi Thiên Tiên và cõi Phật thanh nhẹ vì đã trút bỏ được các lớp trược, vì thế ở cõi này linh hồn có kích thước bằng hai gang tay người lớn.

Người ta còn dùng từ Tứ Đại Thiên Vương để chỉ cõi Địa Tiên. Chư Thiên ở đây cao nửa dặm, thọ 500 tuổi (lấy 50 năm nhân gian làm 1 ngày 1 đêm), nam nữ ôm nhau mà thành dâm dục. Ở chỗ nửa chiều cao Núi Tu Di, Tứ Thiên Vương nắm quyền thống lãnh các cõi Trời thấp hành hơn, gồm: 1.Kiên Thủ Thiên 2. Trì Hoa Man Thiên 3. Thường Phóng Dật Thiên. Chỗ ở của ba cõi Trời này từ chân Núi Tu Di lần lượt trở lên trên đều là Dạ Xoa, Quỉ Thần hưởng phúc như Chư Thiên. 4. Nhật Nguyệt Tinh Tú Thiên; vận hành vòng quanh và ở lưng chừng Núi Tu Di, bằng với cõi của Trời Tứ Thiên Vương.

Gậy Như ý tiếp tục đưa chúng tôi lên thăm các Cõi Trời thường được gọi là Cõi Ngọc Hoàng hoặc Cõi Thiên Vương hoặc Trời Đao Lợi (theo tiếng Phạn dịch là Tam thập tam nghĩa là ba mươi ba), mỗi cõi có một Vị Vua cai Trị. Đừng lẫn Ngọc Hoàng ở đây với Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn – Cha của toàn thể Càn Khôn Vũ Trụ. Các cõi này còn gọi là các Từng Trời vì độ bậc thanh nhẹ khác nhau tưởng như có tầng lớp vậy. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã nhiều lần nhắc đến ba mươi ba tầng trời này: nơi đó chia ra làm 33 nước trời, 32 nước ở bốn phương xung quanh, mỗi phương 8 nước; chính giữa là Thiện Kiến thành, cung của trời Đế Thích, vị trời này quyền thống nhiếp cả 33 nước trời. Đương thời đó Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngự tại cung Trời này mà thuyết pháp trong 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7). Thánh Mẫu là Hoàng Hậu Maya sanh mẫu của Thái Tử Tất Đạt Đa. Bảy ngày sau khi hạ sanh Thái Tử, bà bỏ thân người sanh lên cõi trời Đao Lợi. Bấy giờ, Đức Phật sắp nhập diệt, Ngài ngự lên đó nói pháp, trước để đáp ơn sanh thành, sau nhân đó mà giáo hóa hóa hàng Chư Thiên, cùng Long, Thần bát bộ và cả thảy Thánh, phàm. Chư Thiên ở đây thân cao một dặm, thọ 1000 tuổi (lấy 100 năm nhân gian làm 1 ngày 1 đêm). Nam nữ ôm nhau mà thành dâm dục, ở trên đỉnh Núi Tu Di. Các linh hồn ở đây được học những bài học về Trí để xem xét trí óc có đủ thông minh để đối phó với những điều mà mình thấy hay không, ví dụ thấy một con sông nhưng không có đò qua, hoặc một tòa nhà chắn giữa lối đi. Trí phải đủ sáng để nghĩ cách qua sông hoặc vào nhà.

Cảnh giới của các Vị Trời Dạ Ma có nam nữ cầm tay nhau mà thành dâm dục, Chư Thiên ở đây thân cao 1,5 dặm, thọ 2000 tuổi (lấy 200 năm ở nhân gian làm 1 ngày 1 đêm).

Cảnh giới khoái lạc, dân cư có hạnh phúc là trời Đâu Suất. Chư Thiên ở đây thân cao 2 dặm, thọ 4000 tuổi (lấy 400 năm nhân gian làm 1 ngày 1 đêm). Nam nữ nhìn nhau cười mà thành dâm dục. Các vị Bồ Tát đã thực hành tròn đủ các pháp cần thiết để đắc quả Phật đều cư ngụ ở cảnh giới này, chờ cơ hội thích nghi để tái sinh vào cảnh người lần cuối cùng. Chúng sinh ở đây được nghe Đức Di Lặc giảng pháp, tu hành thành Phật. Ngươn Ba hay Đại Hội Long Hoa kỳ Ba Đức Di Lặc sẽ giáng thế và lịch sử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni kỳ Hai sẽ được chúng sinh biết đến khi Ngài Di Lặc thành đạo dưới cội Long Hoa.

Hóa Lạc Thiên là cảnh giới của những Vị Trời ở trong cung điện to lớn đẹp đẽ. Chư Thiên ở đây thân cao 2,5 dặm thọ 8000 tuổi (lấy 800 năm ở nhân gian làm 1 ngày 1 đêm), nam nữ nhìn nhau đắm đuối mà thành dâm dục. Tha Hóa Tự Tại là cảnh giới của những Vị trời có khả năng tạo thêm những vị khác để phục vụ mình. Chư Thiên ở đây cao 3 dặm, thọ 16000 tuổi (lấy 1600 năm nhân gian làm 1 ngày 1 đêm), nam nữ nhìn nhau giây lát mà thành dâm dục.

Chư Thiên trong các cảnh Trời Dục Giới của 6 tầng trời nói trên đều là hóa sanh, bỗng nhiên xuất hiện dưới hình thức một thiếu nữ hay thanh niên 15, 16 tuổi. Hai tầng trời Tứ Thiên Vương và Đao Lợi dùng ánh sáng mặt trời. Bốn tầng trời Dạ Ma, trời Đâu Suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại tự có ánh sáng riêng, nương mây mà ở.

Từ trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ đến trời Sắc Cứu Cánh, trời Ma Hê Thủ La thuộc về cõi Sắc (có sắc nhưng không còn lòng dục nhiễm).

Cõi Vô Sắc có bốn tầng, chỉ có định quả thân chứ không có thân về sắc chất: Không Vô Biên Xứ Thiên; Thức Vô Biên Xứ Thiên; Vô Sở Hữu Xứ Thiên; Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.

Có thể nói cảnh giới A Tu La cao hơn loài người một bậc. Đặc trưng của cõi này là mối liên hệ với nhau rất cao, đặt trên một trình độ tri thức phát triển. Vừa rời chân tâm trống rỗng vắng lặng đi vào cõi A Tu La, thần thức có cảm giác rơi vào một nơi hoang địa và khôn ngoan quan sát rình rập mọi thứ. Trong thần thức nảy sinh một mối nghi ngờ với tất cả và luôn tìm cách thắng cuộc. A Tu La là cảnh giới của những âm mưu quỷ quyệt, của những sự khôn ngoan gian hùng, những toan tính lớn lao liên quan đến toàn xã hội. Những vị Thần đó:

“Phước báu như Trời

Đức lại kém vơi
Sân hận, tật đố
Tranh đấu mọi nơi”.

Từ trong chân tâm thanh tịnh, thần thức bỗng khởi lên niềm hỷ lạc và muốn lưu giữ niềm vui đó. Thay vì lưu trú trong thức vô ngã, thần thức cảm giác về một tự ngã và muốn giữ gìn tự ngã đó trong một trạng thái đại định. Đó là ý muốn duy trì đời sống trong trạng thái thiền định sâu lắng, an lạc. Thần thức ngần ngại không muốn lưu trú trong cảnh giới vô ngã, chỉ muốn an trú vào một nơi nào đó, muốn là một cái gì đó. Các Chư Thiên là những vị:

“Khéo tu thập thiện

Tạo phước, cúng dường
Sắc, vô sắc thiền”.

Như Minh Mẫn đã phân tích với các bạn thấy Dế Mèn đã được sinh ra từ bụng mẹ và đã có thân tứ đại, mang hình dáng một con người như thế nào. Cảnh giới người có hạnh phúc, khổ đau lẫn lộn. Các vị Bồ Tát thường chọn tái sinh vào kiếp này vì ở đây có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để phục vụ và hành những pháp cần thiết để thành tựu đạo quả Phật. Kiếp cuối cùng của Bồ Tát luôn luôn ở cảnh người.

Những trường hợp thực hành “ngũ thường”, giữ “ngũ giới” cảm sanh về cõi người:

“Giữ gìn ngũ giới

Hoặc ít hoặc nhiều
Sang, hèn, thọ, yểu
Theo nghiệp cảm chiêu”.

Thực hành “ngũ thường”: ăn ít, ngủ ít, nói ít, bố thí, trì giới.
Giữ “ngũ giới”: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt.

Cõi người của 4 châu thiên hạ, phân bố trên biển ở 4 mặt Núi Tu Di như sau:
Đông Thắng Thần Châu có hình dáng như mặt trăng tròn, dọc ngang 9000 do tuần. Người tái sinh về cõi này trong tối tăm vẫn thấy được sắc màu, tai nghe được tiếng tên bay.

Tây Ngưu Hóa Châu: phía đông hẹp, phía tây rộng, hình dáng như nửa mặt trăng, dọc ngang 8000 do tuần. Người ở châu này dùng bò để mua bán trao đổi. Người Tây Châu cách núi cũng thấy, mắt không thể nghe.

Nam Thiệm Bộ Châu (Nam Diêm Phù Đề); phía nam hẹp, phía bắc rộng, dọc ngang 7000 do tuần. Châu này có Tòa Kim Cang là chỗ mà Chư Phật thành đạo ngồi. Người Nam Châu có 5 điều tốt: dũng mãnh, nhớ dai, hay tạo nghiệp lành, phát tâm cầu chí đạo, kham tu phạm hạnh và Phật xuất thế ở châu này. Người Nam Châu có tuổi thọ ngắn. Chúng ta là người đang sống ở châu này. Quả địa cầu chúng ta đang sống mang số 68 trong 72 quả địa cầu. Người thông minh nhất của quả địa cầu số 68 không bằng thường dân của quả địa cầu số 67, tương tự như thế người thông minh nhất của quả địa cầu số 67 không bằng thường dân của quả địa cầu số 66…

Bắc Cu Lô Châu: hình vuông, dọc ngang 10000 do tuần. Ở đây cảnh trí và điều kiện sống tốt đẹp nhất trong 4 châu. Người Bắc Châu dù bị núi ngăn che vẫn thấy suốt không ngại, âm thanh lớn nhỏ xa gần đều nghe. Người Bắc Châu dù có si phước sống lâu nhưng không có trí tuệ nên không thể tiến tu đạo nghiệp, chư Phật cũng không xuất thế ở châu này nên cũng bị kể là 1 trong 8 nạn.

Ngài Long Thọ Bồ Tát có đề cập về tám nạn – tám chướng ngại như sau:

“Có tà kiến, làm súc sinh,

Làm quỉ đói, sinh vào địa ngục,
Thiếu Phật pháp vì sinh nơi biên địa, mọi rợ man ri
Ngu si câm điếc, hoặc làm trời trường thọ;
Tái sinh làm hạng nào trong tám hạng ấy đều là những chướng nạn không thuận lợi”.

Những vị trời trường thọ là như sau: được sinh vào cõi sắc và vô sắc là một trong những quả báo tốt nhất mà bạn có thể có, tuy nhiên khi những vị trời được sinh vào các cõi ấy, họ nghĩ, “ta đang rời khỏi tái sinh làm trời”. Trong thời gian còn lại trên cõi trời họ chỉ có mê mẩn trong trạng thái nhất tâm tịnh chỉ tới nỗi họ giống như đang ngủ một giấc dài, họ lãng phí toàn thể cuộc tái sinh của mình bằng cách hoàn toàn vô nghĩa như thế. Vì thế bạn đừng bao giờ khởi lên ước nguyện tái sinh làm một vị trời để ăn sung mặc sướng vì những lạc thú của cõi trời sẽ làm cho bạn quên đi Phật pháp.

Cảnh giới của Trời Dục Giới cùng với hàng người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục còn được gọi là Hạ Giới. Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm (theo danh từ mà Đức Phật dùng để chỉ những người đã chứng quả vị) có đạo nhãn và thần thông từ một Tiểu Thế Giới (4 cõi ác thú, 4 đại châu, 1 Núi Tu Di, 1 nhật nguyệt, 6 cõi trời Dục giới và 1 cõi Sơ thiền) đến chu vi 1 Trung Thiên thế giới còn nằm trong cảnh Trời Thanh Thiên, Huỳnh Thiên, Xích Thiên, họ còn phải tu tập nhiều hơn nữa để thăng tiến lên cảnh giới Trung Thiên.

Nằm phía trên Dục Giới, cảnh giới các Vị Phạm Thiên, những Vị Trời đã từ bỏ dục vọng và đang thọ hưởng hạnh phúc của thiền. Cảnh giới này có hình chất, không có sự dâm dục nam nữ, không mặc áo mão cũng như mặc, dùng thiền duyệt và pháp hỷ làm thức ăn. Những chúng sanh chứng quả từ sơ thiền đến tứ thiền được sanh về cảnh giới này hay còn gọi là Trung Giới. Các Chư Thiên ở đây có thân cao từ 20 dặm đến 16000 do tuần, tuổi thọ từ nửa trung kiếp cho đến 16000 đại kiếp.

Ở các cõi này linh hồn được học những bài học, về mặt Dũng, được thử thách về lòng dũng cảm.

Thày chỉ dạy cho Minh Mẫn sự khác nhau giữa Địa Tiên và Tiên Thiên như sau:














ĐỊA TIÊNTIÊN THIÊN
Thuộc về ĐịaThuộc về Thiên
Thờ Địa MẫuThờ Thiên Mẫu
Nghe lệnh từ Tiên Thiên
Hoạt động theo chiều âmHoạt động theo chiều dương
Có 36 loạiCó 72 loại
Lĩnh vực hoạt động: 12 tầng (thiền định)Lĩnh vực hoạt động: 24 tầng (thiền định)
Ý chí tiến thủ: rụt rèÝ chí tiến thủ: dũng mãnh
Vào năm Tận Thế (Long Hoa): tiêu diệtVào năm Tận Thế (Long Hoa): tồn tại
Cai quản các vấn đề của cõi Hồng TrầnCai quản các vấn đề của cõi Thiên
Có 72 phép nín thởCó 72 phép giá vũ
Có 72 phép hô hấpCó 72 phép đằng vân

Sáu cảnh giới trên là đối tượng của toàn thể cuộc sống trong cõi luân hồi, đồng thời cũng là sáu cửa ngõ để trở về với chân tâm không sanh không diệt. Sự hiểu biết về sáu cảnh giới này sẽ giúp ta hiểu được những cảnh tượng mà thân trung ấm nhìn thấy, những cảnh khi ta được khai mở thần nhãn nhìn thấy. Sáu cõi này cũng chính là sự thay đổi tâm lý của con người trong những tình huống khác nhau. Nếu hiểu cái tôi là thể chất bằng xương bằng thịt, thì sáu cõi đó có tính khách quan, còn nếu hiểu được cái tôi bao gồm cả tâm thức phân biệt sáu cõi đó không gì khác hơn chính là các cảnh giới được dẫn dắt đến bởi nghiệp lực của mỗi người.

Luân hồi cảnh giới là nơi trước khi cho đi đầu thai người ta thâu hồn nhỏ lại, theo Định luật luân hồi. Nếu một linh hồn người gian ác mà phải đọa làm kiếp thú vật thì trước khi đi đầu thai người ta bắt nó phải uống một thứ nước sông, để hóa ra hình thú vật, và chấm một thứ cây cọ vào lưỡi khiến không nói được nữa. Ở đây hành giả sẽ học được những bài học về lòng từ bi.

Đức Phật đã chỉ dạy muốn thoát khỏi luân hồi sinh tử phải thấy được nguyên nhân gây ra nó tức là ba độc: tham, sân, si, thấy được nguyên nhân của khổ đau và ước nguyện thoát khổ.

Những chúng sinh trong cõi trung ấm sắp tái sinh vào địa ngục có màu sắc như những khúc gỗ đã cháy; những chúng sinh nào sắp tái sinh làm quỉ đói có màu nước; những chúng sinh sắp biến thành súc sinh có màu xám tro; những chúng sinh sắp sinh làm người hay chư thiên cõi dục có màu vàng ròng. Những chúng sinh sắp trở thành chư thiên ở sắc giới thì có màu trắng trong cõi trung gian. Không có cõi trung ấm cho những chúng sinh tái sinh vào cõi vô sắc.

Nào bạn hãy cùng Minh Mẫn thử lý giải về một vài màu sắc mà chúng sinh chiêu cảm khi họ sắp tái sinh về cõi đó nhé. Tâm địa đen tối, xấu xa, độc ác, bất hiếu, bất kính tạo thành nhiều tầng lớp dày đặc bao bọc quanh tâm trong sáng của chúng sinh khiến chúng như bị bịt mắt chỉ thấy một màu tối đen như mực hay như đêm ba mươi. Địa ngục đầy khổ đau chiêu cảm cho họ. Người ta thường nói lòng tham vô đáy. Cũng giống như lòng tham, nước có đặc tính dễ thẩm thấu vào vật và có hình dạng của vật chứa đựng nó. Nước còn là yếu tố liên kết cho sự nắm giữ của tâm tham. Cho đến lúc sắp trở thành ngạ quỉ chúng sinh vẫn còn trải lòng tham lam bỏn sẻn của mình vào tất cả đối tượng mà chúng thấy như là yếu tố, phương tiện cho tâm ham muốn nắm giữ: nước.

Minh Mẫn được Thày cho phép “mơ” về cõi Thượng Giới nơi các Vị Phật an trú trong cảnh Niết Bàn. Theo cuốn sách “Thượng Đế giảng chân lý” Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn có nói rằng các Vị Phật cũng cần xuống Hồng Trần để học những bài học về Dũng, để Hoàn Nguyên tức trở về cõi Hư Không Đại Định (Đại Niết Bàn). Các Vị Phật đó là ai nếu không phải là chính chúng ta xuống cõi Hồng Trần, để tôi luyện, học thêm các bài học cần thiết cho sự tiến hóa của mình. Vì sao vậy? Cổ Đức có nói: “ Trước niệm không sanh tức tâm, sau niệm không sanh tức Phật”, nghĩa là khi niệm chưa khởi đó là tâm chân thật, và khi niệm đã lỡ sanh rồi, một lát sau nó lại lặng mất (chưa có niệm kế tiếp), thì chính cái rỗng lặng mà hằng biết rõ sau khi niệm lặng đó là chân tâm hiện diện nên nói là “sau niệm không diệt tức Phật”. Chính cái chỗ rõ biết rỗng lặng khi chưa có niệm và sau khi niệm lặng đó nó luôn an định sáng suốt không sinh không diệt, là tâm Phật của mỗi người sẵn có vậy. Song phàm phu mê muội lại cho những ý niệm là mình nên quên đi cái rỗng lặng sáng suốt ấy mà có đủ chuyện khổ đau.

Nếu người biết tu không phải đợi ngồi một chỗ mới gọi là tu, ở ngay trong đời sống hàng ngày tuy hoạt động nhưng vẫn tu được, miễn sao sáu căn tiếp xúc ngũ trần cái Biết vẫn hằng hữu nơi sáu căn, mà đừng cố chấp dính mắc các pháp thì ngay đó là phật pháp, là cảnh giới Phật. Làm tất cả việc mà không đắm nhiễm nên tâm không chao động, lại sáng suốt làm lợi ích cho nhân loại nên định và huệ đều đầy đủ. Đó là địa vị Phật. Mà Phật là Giác. Giác tức là Biết. Giác Ngộ là Nhận Ra cái Biết hằng ngày để sống. Minh Mẫn chỉ dám mơ tới chỗ này thôi.

Nếu ta nói có địa ngục, có khổ đau nhưng ngày nay con người chúng ta đã làm gì để cho nhân loại bớt khổ? Hàng ngày bạn đều nghe tin trên các phương tiện thông tin đại chúng chiến tranh, chém giết khắp nơi, những vụ khủng bố giết người hàng loạt vì mâu thuẫn sắc tộc, quyền lợi của cái gọi là quốc gia. Vì lòng tham không đáy người ta chế tạo bom nguyên tử, tàn phá rừng, hủy hoại lá phổi của Trái Đất, đào bới lòng đất để khai thác dầu mỏ, than đá, nước ngầm, ngăn chặn các dòng chảy trái với qui luật tự nhiên, sản xuất các chất gây hiệu ứng nhà kính phá hủy tần ô zôn, sử dụng những loại thuốc bảo vệ thực vật, kích thích tăng trưởng, biến đổi gien để tạo thêm cho mình nhiều lợi nhuận hơn v.v.. Và kết quả bạn thấy đó: thiên nhiên ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn, con người đã phải chịu nhiều sự “phản hồi” từ những hành động điên rồ của mình với những trận động đất, bão, hạn hán, ngập lụt cướp đi sinh mạng hàng vạn người trong thời gian gần đây. Chúng ta giương khẩu hiệu nhân đạo nhưng nước giàu vẫn cướp bóc nước nghèo, hàng tỷ đô la vẫn được đổ vào vũ khí đạn dược một cách vô nghĩa, nhiều tấn thực phẩm, hàng hóa có thể bị tiêu hủy nhưng hàng triệu người vẫn đang bị đang bị đói lương thực, khát nước sạch. Ở đâu đó người ta sản xuất thuốc điều trị AIDS nhưng thử hỏi bệnh nhân các nước nghèo có tiền mua nổi hay không? Ở đâu đó người ta vẫn sản xuất, vận chuyển, buôn bán ma túy, điều chế ma túy tổng hợp để đưa con người xuống địa ngục của địa ngục. Tình thương của chúng ta ở đâu? Thế giới của chúng ta sẽ đi về đâu hả các bạn? Tôi và bạn đã làm gì để góp phần giúp cho quả địa cầu 68 của chúng ta trở thành Thiên Đàng?

Tổ Huệ Năng có nói:
“Chúng ta nên đi tìm Phật tánh trong cốt tủy của tâm. Không nên phí công tìm kiếm ở bên ngoài mình. Kẻ nào không biết gì về tự tánh của tâm mình là chúng sinh. Còn ai thấy được tự tánh ấy, người đó là Phật”. Phật ở đây không phải là một nhân vật lịch sử, nhưng là sự tự do không còn bị chi phối bởi những sự bất thiện, một tâm hoàn toàn thanh tịnh. Đó là đức Phật mà tất cả chúng ta đều phải trở thành.

Như bạn thấy đấy từ cõi thấp nhất là địa ngục cho đến cảnh giới cao nhất mà ta dùng từ ngữ tạm gọi là Đại Niết Bàn đều có trong bản thể con người, do tâm giả kiến tánh của ta chiêu cảm ra và đặt ra cho nó với các tên gọi khác nhau. Ở bất cứ cảnh giới nào nếu chúng ta có lòng tưởng Trời Phật thì khắp các cõi chúng ta đều được Đấng Thiêng Liêng dang tay cứu độ. Các Ngài đứng dưới các Hồng Danh như Địa Tạng Bồ Tát, Quan Thế Âm Bố Tát, Thích Ca Mâu Ni Phật, Di Lặc Bồ Tát, A Di Đà Phật, Thái Thượng Lão Quân, Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn, Đức Chúa Trời, Đức Mẹ Maria v.v.. để kêu gọi những đứa con ngu dại của mình mau tỉnh ngộ trở về với Cha Mẹ chúng đang ngày đêm trông đợi mỏi mòn. Ở đâu cũng là Điểm Mở cho chúng ta “Mơ” (tu tập điều tức tâm) để đạt “Mơ” (giải thoát khỏi tâm giả kiến tánh của mình).

Xin mượn lời Đức Phật chỉ dạy trong Kinh Hoa Nghiêm giúp chúng ta phần nào có ý niệm về Tâm:

“Tâm như họa sĩ khéo:

Vẽ thế giới muôn màu,
Cảnh ngũ ấm thế gian,
Không pháp nào không tạo”.

Bạn xem lại Đức Phật chỉ dạy trong đoạn Kinh Phật Thuyết bào Thai: “Khí gây ra các hiện hành của tâm sở trong trạng thái trung ấm tan rã, và lúc đó, màn tâm thức xuất hiện, đỏ tăng và đen cận mãn hé rạng theo thứ tự. Các thứ này và ánh tịnh quang của sự chết của thần thức hiện ra rất nhanh chóng”.

Thày chỉ dạy sau khi tứ đại tan rã, năm hiện tượng ở mức ý thức phải xuất hiện theo thứ lớp. Năm hiện tượng này là: 1. Tâm thức của 80 tâm sở hiện hành, 2. Tâm thức màn trắng tỏa ra, 3. Tâm thức màn đỏ tăng dần tỏa ra, 4. Tâm thức màn đen cận mãn, và 5. Tâm thức ánh tịnh quang của sự chết.

Tám mươi tâm sở hiện hành chia làm ba nhóm: 33 tâm sở của tâm thức màn trắng xuất hiện, 40 tâm sở của tâm thức màn đỏ tăng dần, 7 tâm sở của tâm thức màn đen cận mãn.

Ba mươi ba tâm sở gồm:
1. Không tham muốn nhiều: tâm thức không tham muốn đối tượng.
2. Không tham muốn vừa.
3. Không tham muốn ít.
4. Ý thức tìm và đến: ý thức đi tìm đối tượng bên ngoài và tìm đến đối tượng bên trong tâm thức.
5. Buồn nhiều: ý thức đau khổ vì xa lìa đối tượng vừa ý.
6. Buồn vừa
7. Buồn ít
8. An tịnh: tâm thức trụ trong an lạc
9. Khái niệm: tâm dao động vì sức sáng của đối tượng
10. Sợ hãi nhiều: sợ hãi phát sinh khi gặp phải đối tượng không vừa ý
11. Sợ hãi vừa
12. Sợ hãi ít
13. Dính mắc nhiều: dính mắc vào đối tượng vừa ý
14. Dính mắc vừa
15. Dính mắc ít
16. Chấp thủ: tâm thức trọn vẹn dính mắc vào các đối tượng của dục giới
17. Bất thiện hay si mê: tâm nghi ngờ các giá trị của thiện nghiệp
18. Đói: tâm ham muốn thức ăn
19. Khát: tâm ham muốn thức uống
20. Cảm thọ nhiều: tâm nhận biết lạc thọ khổ thọ và vô ký
21. Cảm thọ vừa
22. Cảm thọ ít
23. Khái niệm của người biết
24. Khái niệm của sự biết
25. Khái niệm của đối tượng được biết
26. Quán cá nhân: tâm phân tích nhận ra cái gì là tốt và không tốt
27. Tàm: tâm tránh làm điều bất thiện vì thấy là sai, hoặc vì thọ giới của tôn giáo.
28. Từ: ước muốn thoát khổ đau
29. Tha thứ: tâm hoàn toàn che chở đối tượng quán sát
30. Tham muốn gặp gỡ cái đẹp
31. Lo ngại: tâm mê muội, không trụ nơi an ổn
32: Thủ: tâm tích trữ của cải
33. Ganh tỵ: tâm phiền não vì ganh ghét sự giàu có của người khác.

Xuyên suốt 33 tâm sở nói trên là là các tâm thức thô hình thành do năm thức của các giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, là cái tham, một khái niệm mà chúng ta thường nói với nhau phàm là con người ai cũng có cái tham: tham của cải, tham sắc, tham danh, tham lợi…Vậy theo bạn tham là cái gì, có phải là tâm ham muốn nắm giữ? Chính vì ham muốn nắm giữ, muốn sở hữu nên chúng ta bị mắc kẹt trong đó và cuối cùng chủ nhân lại quay trở lại làm nô lệ cho cái tham.

“Căn bản” là tài sản của một người khác. Giả sử khi đi chợ bạn trông thấy một món hàng hấp dẫn và nghĩ “ước gì ta có được!” và khao khát nó gần như muốn ốm. Sự “nhận ra” là biết được một vật đặc biệt nào đó làm căn bản cho lòng tham của bạn. Động lực, hành vi và bước cuối phải được xem là những nhiệm vụ của một ý định duy nhất. Động lực là ý nghĩ “ước gì vật này là của ta!”. Vọng tưởng là một trong ba độc. Hành vi là khi ý nghĩ càng mãnh liệt, và bạn quyết định mình phải tìm cách nào khiến cho vật ấy biến thành của mình. Bạn cũng có thể tham ngay cả những sở hữu của bạn.

Vậy làm thế nào để đối trị cái tham? Thày chỉ dạy cho Minh Mẫn phải:
1. Thường xuyên quán tưởng của cải, danh lợi, sắc đẹp là vô thường (phù du) có đến phải có đi, có được phải có mất, ta không thể nào nắm giữ chúng mãi được.

2. Xét về bản chất, nó (cái tham) là không không cũng như tự tánh của Tâm ta, sở dĩ nó khiến ta điên đảo vì cái tâm giả kiến tánh của mình tạo ra cho nó những “tự tánh” không tưởng. Ví dụ người đời thường coi trọng tiền bạc hơn tình cảm và họ đặt câu vè về tiền là:

“Tiền là Tiên, là Phật
Là sức bật con người
Là tiếng cười tuổi trẻ
Là sức khỏe ông già
Là cái đà danh vọng
Là cái lọng che thân
Là Thần Công Lý
Tiền là hết ý!”.

Thật ra tiền không phải là tất cả có đúng không các bạn? Nó không thể giúp chúng ta thoát khỏi tay Thần Chết, nó không giúp chúng ta khỏi đau bệnh. Tiền không mua được hạnh phúc. Người minh mẫn là người biết cách sử dụng nó một cách minh mẫn: coi nó là phương tiện nuôi sống bản thân, duy trì cuộc sống gia đình và khi cần thiết dùng nó như một nô bộc tốt để giúp đỡ mọi người.

3. Đặt gánh tham xuống khỏi đôi vai của mình cho nhẹ gánh trên con đường tu là đã thành công được 50%.

Xin trích dẫn lời Đức Phật chỉ dạy về phạm vi sinh khởi để kết thúc phần trình bày về cái tham của tâm sở: “Bất cứ thứ gì bạn có, đừng có nó”. Hãy để nó ở đó, nhưng đừng làm cho nó thành của bạn. Bạn phải hiểu sự có và không có này, biết được bản chất của chúng. Đừng quanh quẩn trong sự đau khổ.

Bốn mươi tâm sở tiếp theo là:

1. Tham ái: chấp trước vào đối tượng chưa chiếm hữu được
2. Thủ: giữ chặt đối tượng đã chiếm hữu
3. Phỉ lạc nhiều: tâm vui sướng khi gặp đối tượng vừa ý
4. Phỉ lạc vừa
5. Phỉ lạc ít
6. Hoan hỉ: lạc thọ khi đạt được đối tượng ham muốn
7. Say mê: khi tâm thức gặp lại đối tượng ham muốn nhiều lần
8. Kinh ngạc: quán sát đối tượng chưa từng xuất hiện trước đó
9. Kích thích: tâm thức náo động khi nhận thức đối tượng vừa ý
10. Mãn nguyện: hài lòng khi gặp đối tượng vừa ý
11. Ôm ấp: ham muốn ôm ấp vào lòng
12. Hôn: ham muốn hôn
13. Bú mút: ham muốn bú mút
14. Định: tâm thức an trụ không thay đổi
15. Tinh tấn: tâm thức hướng về điều thiện
16. Kiêu mạn: tâm thức cho mình cao hơn người
17. Hành: tâm thức muốn hoàn tất công việc
18. Trộm cướp: ham muốn cướp đoạt của cải
19. Vũ lực: ham muốn chinh phục quân địch
20. Hăng hái: tâm thức quen thuộc với con đường hành thiện nghiệp
21. Hành ác nghiệp nhiều: hành các điều bất thiện vì kiêu mạn
22. Hành ác nghiệp vừa
23. Hành ác nghiệp ít
24. Sôi nổi: ham muốn tranh luận với người giỏi mà không có lý do
25. Ve vãn: ham muốn vui chơi khi gặp đối tượng thu hút
26. Tính giận dữ: tâm oán hận
27. Tâm thiện: ước muốn tinh tấn làm điều thiện
28. Nói rõ và nói thật: ước muốn nói cho mọi người đều hiểu rõ và không nói sai nhận thức của mình trên sự kiện
29. Nói dối: ước muốn nói sai nhận thức của mình
30. Quyết định: ý chắc chắn
31. Không nắm giữ: tâm thức không ham muốn đối tượng nắm giữ
32. Bố thí: ước muốn đem của cải cho người
33. Cổ vũ: ước muốn thúc đẩy người lười biếng tu học đạo
34. Dũng cảm: ước muốn chiến thắng kẻ thù như là phiền não
35. Vô tàm: hành bất thiện mà không có ý muốn tránh tà hạnh vì chính mình không đồng ý hoặc vì giới luật cấm
36. Lừa dối: lừa lọc kẻ khác vì đạo đức giả
37. Sắc bén: ý thức nhạy bén
38. Sa đọa: tâm thức quen với các tà kiến
39. Ác hại: ước muốn làm tổn thương kẻ khác
40. Gian xảo: tính bất lương.

Cốt lõi của 40 tâm sở tiếp theo là “những con đường” hay là những thủ đoạn mà tâm tham của ta đã khéo léo sắp đặt để nắm giữ, sở hữu, biến đối tượng khách quan thành chính mình, đó là thần thức khái niệm là tâm vi tế.

Bảy tâm sở:

1. Quên: sự suy kém trí nhớ
2. Nhầm lẫn: như khi nhận lầm ảo ảnh là nước
3. Không nói: không muốn nói
4. Trầm cảm: tâm phiền muộn
5. Giãi đãi: lười biếng không hăng hái làm điều thiện
6. Hoài nghi
7. Tham ái vừa: tâm thức mà tham và sân ở trạng thái bằng nhau.

Bảy tâm sở cuối là biểu hiện cho sự sân hận và ngu si. Sân là một tâm hành có đặc tính tự nhiên là thù ghét, chối bỏ đối tượng. Lòng ghen tức, bực mình, giận dữ, bất an, chối bỏ đều là những trạng thái của tâm sân. Si là một tâm hành có khả năng làm mờ mịt nhận thức, khiến ta không thấy rõ được đối tượng. Thần thức trụ trong giọt khí bất hoại là tâm cực vi tế.

Minh Mẫn đã cùng bạn đi thăm khắp mọi nơi trong Vũ trụ, đã thấy được nhiều cảnh giới đau khổ có, sung sướng hạnh phúc có. Nhưng cũng có bạn cũng có thể cho rằng những điều đó không có thật vì bạn không nhìn thấy, hoặc nếu có thì nó ở tận xa tít đâu đâu. Không, nó không ở đâu xa cả mà ngay bên cạnh chúng ta, trong tâm của mỗi chúng ta. Địa ngục hay thiên đàng, Phật hay Ma tất cả chỉ là khái niệm, chỉ cách nhau một tấm màng vô minh. Nhiệm vụ của chúng ta là nhận biết và phá bỏ màng vô minh đó. Điểm mở quanh ta, trong ta, chỉ cần ta luôn “mơ” những giấc mơ minh mẫn!

Qua bài viết này Minh Mẫn rút ra được hai bài học cơ bản mà Thày muốn chỉ dạy cho chúng ta là: bài học chiêu cảm của tâm và bài học nhân quả.

Chính vì những việc làm trong quá khứ mà chúng ta chiêu cảm hay sinh ra trong cõi đời này. Cuộc sống mà chúng ta đang kinh nghiệm trong giờ phút hiện tại đây, là kết quả huân tập của những việc ta đã làm trong quá khứ. Tất cả chỉ là một sự vận hành của luật nhân quả. Không có ai trên trời quyết định số mạng, vận mệnh của ta hết. Hiểu được luật nhân quả, ta sẽ có thể tự tạo lập số mệnh cho mình. Có những con đường dẫn ta đến nơi cao thượng, an lạc, cũng có những con đường đưa ta tới chốn khổ đau. Khi chúng ta hiểu được điều này, ta có được hoàn toàn tự do trong sự chọn lựa của mình.

Chúng ta nên khắc ghi trong tâm khảm và luôn thực hiện mười nghiệp lành để chúng ta tạo được quả lành:

Ba hạnh lành thuộc về thân:
1. Không sát sanh: Từ bi, không sát hại, sẽ được khỏe mạnh trường thọ
2. Không trộm cắp: Ngay thẳng, không lấy của người, sẽ được giàu sang, an ổn.
3. Không tà dâm: Trong sạch, không quan hệ bất chính, được xinh đẹp, hạnh phúc.

Bốn hạnh thuộc về khẩu:
4. Không nói dối: Chân thật, không dối gạt, sẽ được uy thế tiếng tăm.
5. Không thêu dệt: Trung thực, không xảo ngôn, sẽ được uy thế tiếng tăm.
6. Không đâm thọc: Hòa hợp, không nói lời ly gián, sẽ được nhiều người ủng hộ.
7. Không nói thô ác: Hòa nhã, không cay nghiệt, không thô tục, sẽ được cao sang.

Ba hạnh thuộc về ý:
8. Không gian tham: Rộng rãi thí xả, sẽ được vô lượng phước báu.
9. Không sân hận: Từ hòa nhẫn nại, sẽ được vô lượng duyên lành.
10. Không si mê: Sáng suốt tỉnh giác, sẽ được vô lượng trí huệ.

Vô Tự Chân Kinh là cuốn sách nói về chân tâm và hoạt động của tâm thức lúc tái sanh cũng như sau khi chết. Thể của tâm thì vắng lặng, trống rỗng, không sanh, không diệt, nhưng dụng của tâm thì vô cùng vô tận. Ví như tất cả các giai điệu đều phát sinh ra từ sợi dây đàn, nhưng bản thân dây đàn không phải là các giai điệu đó. Mỗi giai điệu đều có hay, có dở, có dài, có ngắn, có bổng, có trầm, có bắt đầu, có chấm dứt; nhưng dây đàn thì không hay không dở, không dài không ngắn, không sanh không diệt. Nếu có chúng sanh nào sinh ra trong giai điệu nhạc, sanh sau khi giai điệu nhạc bắt đầu và chết trước khi giai điệu nhạc chấm dứt, thì chắc chắn không bao giờ người ấy có thể hiểu được thể tánh của dây đàn. Chúng ta người sống cũng như kẻ chết, đều đang quay cuồng trong các “giai điệu nhạc” (đùa mơ), không ngờ rằng mình đang trong thể tánh thanh tịnh không sanh không diệt, tức là Phật tánh. Bạn nghĩ thế nào khi chúng ta nhận biết và đạt được thể tánh thanh tịnh nhất nguyên đó? Có phải chính là chúng ta đã Hoàn Nguyên, đã trở về với Nguồn Cội, với Chính Mình?

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 7 năm 2008
Tức 29 tháng 6 Mậu Tý